Soạn bài: Bước vào đời (trích Nhớ nghĩ chiều hôm) – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

  • Đào Duy Anh (1904 – 1988), quê ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội).
  • Ông là học giả có nhiều đóng góp quan trọng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu.
  • Tham gia phong trào yêu nước, cách mạng và các hoạt động dịch thuật, nghiên cứu từ rất sớm (trước năm 1930).
  • Được xem là một trong những người đặt nền móng cho nhiều ngành Khoa học xã hội ở Việt Nam (từ điển học, văn hoá học…). Ở lĩnh vực sử học, ông có nhiều công trình có giá trị.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Hán Việt từ điển giản yếu (1932), Việt Nam văn hoá sử cương (1938), Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943), Nguồn gốc dân tộc Việt Nam (1950), Đất nước Việt Nam qua các đời (1964), Từ điển Truyện Kiều (1974)…
  • Được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000; được ghi tên vào bộ từ điển Larousse (Pháp) với tư cách nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại.

2. Tác phẩm

a) Hồi kí Nhớ nghĩ chiều hôm

  • Hoàn cảnh sáng tác: viết xong năm 1972, hoàn chỉnh vào cuối năm 1974.
  • Nội dung: thuật lại những chặng đường chính trong cuộc đời hoạt động chính trị, văn hoá và khoa học của tác giả; chứa đựng nhiều suy tư về mối quan hệ giữa trí thức Việt Nam với dân tộc, về sứ mệnh của thanh niên đối với tương lai đất nước.

b) Đoạn trích Bước vào đời

  • Xuất xứ, vị trí: thuộc phần đầu của hồi kí Nhớ nghĩ chiều hôm, kể về sự kiện đánh dấu giai đoạn “bước vào đời” của tác giả.
  • Thể loại: hồi kí.
  • Phương thức biểu đạt: tự sự (kết hợp miêu tả, biểu cảm).
  • Ngôi kể: ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
  • Bố cục (3 phần):
    • Phần 1 (từ đầu đến “ở ngoài thế giới của thần đỏ đen”): Bối cảnh chính trị – xã hội Đồng Hới trước cuộc gặp Phan Bội Châu.
    • Phần 2 (tiếp đến “để bước lên cõi văn minh”): Cuộc đón tiếp Phan Bội Châu tại Hội Quảng tri Đồng Hới và ấn tượng sâu sắc của tác giả.
    • Phần 3 (còn lại): Quyết định “đi Sài Gòn để viết báo” và ảnh hưởng từ lễ tang Phan Châu Trinh.

II. Trước khi đọc

Câu hỏi: Theo bạn, trong giai đoạn “bước vào đời”, việc định hướng tương lai của mỗi cá nhân thường chịu tác động của những yếu tố nào?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Theo em, việc định hướng tương lai của mỗi cá nhân trong giai đoạn “bước vào đời” chịu tác động của nhiều yếu tố:
    • Đam mê, sở thích cá nhân và năng lực của bản thân.
    • Hoàn cảnh gia đình: điều kiện kinh tế, truyền thống, kì vọng của cha mẹ.
    • Xu hướng xã hội: nhu cầu nghề nghiệp, sự phát triển của các ngành.
    • Những tấm gương thành công truyền cảm hứng.
  • Cách 2: Em cho rằng yếu tố quan trọng nhất là hoài bão, lí tưởng cá nhân. Ngoài ra, bối cảnh thời đại cũng có ảnh hưởng lớn: mỗi thời đại đặt ra những yêu cầu, thách thức riêng, đòi hỏi tuổi trẻ phải có cách chọn lựa phù hợp. Bên cạnh đó, những nhân vật gây ấn tượng mạnh (nhà cách mạng, nhà khoa học, người thân…) cũng có thể định hướng cả một đời người.

III. Trong khi đọc

1. Chú ý cách giới thiệu sự kiện của tác giả

  • Tác giả mở đầu bằng lời hồi tưởng“buổi xế chiều của cuộc đời”, trong những đêm khó ngủ.
  • Trực tiếp giới thiệu sự kiện trung tâm: “cuộc đón tiếp cụ Phan Bội Châu ở Đồng Hới một buổi trưa cuối năm 1925”.
  • Khẳng định ý nghĩa quan trọng của sự kiện: “đã định hướng cho cả cuộc đời của tôi từ trước đến sau”.

-> Cách giới thiệu trực tiếp, cô đọng, khơi gợi ngay sự tò mò và cho thấy giá trị của sự kiện đối với cuộc đời tác giả.

2. Tác giả đã gợi lại bối cảnh chính trị – xã hội Việt Nam giữa thập niên hai mươi của thế kỉ XX như thế nào?

a) Ở tỉnh lị Đồng Hới:

  • Một tỉnh hẻo lánh, thành phần trí thức ít ỏi (mấy chục người).
  • Đời sống êm đềm, uể oải: người ta rủ nhau đánh bạc, uể oải xem báo, chơi quần vợt, ngâm thơ…

b) Các sự kiện chính trị được phản ánh:

  • Nguyễn An Ninh du học ở Pháp về, ra tờ báo Tiếng chuông rạn đả kích chế độ thực dân.
  • Phan Châu Trinh bị an trí ở Pa-ri 15 năm, trở về Sài Gòn được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt.
  • Phan Bội Châu bôn tẩu cách mạng ở nước ngoài 20 năm, bị bắt ở Thượng Hải, giam tại Hoả Lò.
  • Cuộc xử án Phan Bội Châu biến thành cuộc xử án chế độ thực dân.
  • Phong trào đòi “ân xá” Phan Bội Châu sôi sục cả nước.

-> Tác giả tái hiện bối cảnh hai chiều: đời sống trầm lặng ở tỉnh lị đối lập với không khí sôi động của phong trào yêu nước trên cả nước – vừa chân thực vừa giàu sức gợi.

3. Hình dung về nhân vật được tái hiện trong kí ức của tác giả

Phan Bội Châu hiện lên qua kí ức tác giả với những đặc điểm nổi bật:

  • Trang phục: “áo dài Trung Quốc” – bộ áo vẫn mặc trong thời hoạt động ở nước ngoài.
  • Ngoại hình: “cao lớn vượt lên trên cử toạ”, “trán cao, đầu hói, mặt chữ điền, lông mày rậm, chòm râu đen”.
  • Phong thái: vừa hiền giả vừa chí sĩ, đôi mắt “sáng quắc” nhưng nhìn mọi người rất trìu mến.
  • Giọng nói: “sang sảng như chuông”, khiến mọi người “nín thở mà hớp lấy từng lời”.
  • Nội dung phát biểu: khuyên hội viên nên học nhiều, hấp thụ nhiều kiến thức mới để phục vụ đất nước bước lên cõi văn minh.

-> Chân dung Phan Bội Châu hiện lên đầy uy nghi, cao quý – vừa là bậc hiền giả, vừa là nhà cách mạng, để lại ấn tượng khó phai trong lòng tác giả.

4. Tác giả đã cảm nhận thế nào về sức ảnh hưởng của những nhân vật lịch sử đối với cá nhân mình?

  • Sau cuộc gặp Phan Bội Châu, tác giả thao thức không ngủ được, cảm thấy không thể chờ đợi được nữa mà phải thoát ngay chốn ao tù để tìm nơi “trời cao biển rộng hơn”.
  • Quyết định bước ngoặt: “quyết định đi Sài Gòn để viết báo”.
  • Lễ tang Phan Châu Trinh cùng bài văn tế của Phan Bội Châu tiếp tục thúc giục tác giả: “lại thúc giục lòng tôi muốn đi xa”.

-> Những nhân vật lịch sử đã có sức ảnh hưởng vô cùng lớn: không chỉ thổi bùng khát vọng trong lòng tác giả mà còn định hướng con đường đi cho cả cuộc đời.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Đoạn trích kể về sự kiện gì? Tác giả đã kể câu chuyện từ điểm nhìn nào? Nêu ý nghĩa của việc lựa chọn điểm nhìn đó.

  • Sự kiện chính: cuộc đón tiếp Phan Bội Châu ở Đồng Hới buổi trưa cuối năm 1925 – sự kiện đã định hướng cả cuộc đời cho tác giả, khiến ông quyết định rời bỏ nghề dạy học tỉnh lị để đi Sài Gòn viết báo.
  • Điểm nhìn: kết hợp điểm nhìn cá nhân (của “tôi” – tác giả) và điểm nhìn thời đại (bao quát bối cảnh chính trị – xã hội Việt Nam giữa thập niên 20 thế kỉ XX).
  • Ý nghĩa:
    • Từ điểm nhìn cá nhân, tác giả kể chuyện chân thực, sinh động, giàu cảm xúc riêng.
    • Từ điểm nhìn thời đại, đoạn trích còn phản ánh sự lựa chọn của cả tầng lớp thanh niên trí thức đương thời, cho thấy sức ảnh hưởng lớn lao của các nhà yêu nước, cách mạng tiền bối.

Câu 2: Tính phi hư cấu của hồi kí đã được thể hiện thế nào trong văn bản?

Tính phi hư cấu là đặc trưng cốt lõi của hồi kí – thuật lại những sự kiện, sự việc có thật.

Trong văn bản, tính phi hư cấu thể hiện qua:

  • Các mốc thời gian cụ thể: năm 1923 (đi dạy ở Đồng Hới), năm 1925 (cuộc đón tiếp Phan Bội Châu), mùa đông năm 1925 (cuộc xử án Phan Bội Châu)…
  • Các địa danh có thật: Đồng Hới, Quảng Bình, Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Pa-ri, Thượng Hải, Hoả Lò…
  • Các nhân vật lịch sử có thật: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đơn Quý, hai trạng sư Bô-na và La-rơ…
  • Các sự kiện có thật: cuộc xử án Phan Bội Châu trước Hội đồng Đề hình, phong trào đòi ân xá, lễ tang Phan Châu Trinh…
  • Các tư liệu cụ thể: tên các báo La cloche fêlée, L’Echo Annamite, Việt Nam hồn; tên sách Dư cửu niên lai sở trì chỉ chủ nghĩa của Phan Bội Châu; các câu trong bài văn tế Phan Châu Trinh…

-> Tính phi hư cấu làm sống lại kí ức chân thật về một giai đoạn lịch sử, đồng thời tăng độ tin cậy cho những gì tác giả kể.

Câu 3: Trong đoạn trích, nhân vật “tôi” đã thể hiện hoài bão “bước vào đời” như thế nào? Điều gì đã thôi thúc tác giả hành động vì hoài bão đó?

a) Hoài bão của nhân vật “tôi”:

  • Không muốn chôn vùi tuổi thanh niên ở nơi hẻo lánh với cái nghề “gõ đầu trẻ”.
  • Muốn tìm nơi “trung tâm văn hoá chính trị có cuộc sinh hoạt rộng rãi hơn”.
  • Ban đầu dự định chờ thi bằng Tú tài để đi Hà Nội hay Sài Gòn.
  • Sau cuộc gặp Phan Bội Châu: quyết định không chờ được nữa mà phải thoát ngay chốn ao tù, tìm “nơi trời cao biển rộng hơn”, quyết định đi Sài Gòn để viết báo.

b) Điều thôi thúc tác giả:

  • Cuộc gặp gỡ Phan Bội Châu – ấn tượng mạnh về phong thái, giọng nói và lời khuyên của cụ.
  • Không khí chính trị sôi sục trong cả nước: cuộc xử án Phan Bội Châu, phong trào đòi ân xá.
  • Cuộc vận động bầu cử Viện Nhân dân đại biểu Trung Kì với thắng lợi của các phần tử tiến bộ (Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đơn Quý…).
  • Lễ tang Phan Châu Trinhbài văn tế của Phan Bội Châu – những câu văn khích lệ tinh thần hành động.

-> Sự thôi thúc đến từ cả bên trong (hoài bão cá nhân) lẫn bên ngoài (bối cảnh thời đại và các nhân vật lịch sử).

Câu 4: Đoạn trích cho thấy những gì đang diễn ra trong đời sống chính trị – xã hội Việt Nam và cách sống của tầng lớp trí thức lúc bấy giờ?

a) Đời sống chính trị – xã hội:

  • Việt Nam đang chịu ách thống trị của thực dân Pháp cùng bộ máy quan lại tay sai.
  • Phong trào yêu nước, cách mạng đang lên cao: hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh…
  • Báo chí tiến bộ phát triển: La cloche fêlée, L’Echo Annamite, Việt Nam hồn… – đả kích chế độ thực dân, khơi dậy tinh thần dân tộc.
  • Quần chúng nhân dân thức tỉnh, tham gia các phong trào đấu tranh chính trị.

b) Cách sống của tầng lớp trí thức:

  • Bộ phận công chức, quan lại: sống “êm đềm, uể oải”, chỉ lo bảo vệ “nồi gạo”, tụm năm tụm bảy đánh bạc, chơi quần vợt, ngâm thơ…
  • Bộ phận trí thức tiến bộ: quan tâm đến thời cuộc, đọc báo, thảo luận chính trị, hưởng ứng phong trào yêu nước.
  • Một số đã từ chức, dấn thân vào hoạt động cách mạng (như Nguyễn Đơn Quý).

-> Đó là giai đoạn giao thời, khi tầng lớp trí thức Việt Nam đang đứng trước lựa chọn: sống an phận hay dấn thân cho lí tưởng dân tộc.

Câu 5: Những nhân vật lịch sử nào được nhắc đến trong đoạn trích? Sức ảnh hưởng của các nhân vật ấy đối với những thanh niên giàu tinh thần dân tộc thời đó được thể hiện như thế nào?

a) Các nhân vật lịch sử được nhắc đến:

  • Phan Bội Châu (nhân vật trung tâm).
  • Phan Châu Trinh.
  • Nguyễn An Ninh.
  • Huỳnh Thúc Kháng.
  • Nguyễn Đơn Quý.

b) Sức ảnh hưởng của các nhân vật:

  • Phan Bội Châu:
    • Cuộc xử án của cụ thức tỉnh giới trí thức về những người “không sợ cái sống nguy hiểm của đời hoạt động cách mạng”.
    • Sự xuất hiện của cụ tại Đồng Hới đã định hướng cả cuộc đời cho tác giả, khiến ông quyết định rời bỏ nghề dạy học để đi Sài Gòn viết báo.
    • Bài văn tế của cụ (viết cho Phan Châu Trinh) tiếp tục thúc giục tác giả “muốn đi xa”.
  • Phan Châu Trinh:
    • Việc được hoan nghênh nhiệt liệt khi từ Pa-ri về Sài Gòn tạo niềm tự hào dân tộc.
    • Lễ tang cụ được cử hành long trọng, rầm rộ trên cả nước – trở thành cơ hội để thanh niên trí thức trao đổi ý kiến chính trị.
  • Các nhân vật khác (Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đơn Quý…) là tấm gương về dấn thân cho lí tưởng – từ chức để hoạt động cách mạng.

-> Các nhân vật lịch sử ấy đã trở thành ngọn lửa thắp sáng hoài bão, định hướng cho cả một thế hệ thanh niên trí thức Việt Nam giữa thập niên 20 của thế kỉ XX.

Câu 6: Chỉ ra một số yếu tố miêu tả, biểu cảm trong văn bản và phân tích vai trò của chúng trong việc giúp tác giả tái hiện kí ức về một giai đoạn đã qua của cuộc đời.

a) Yếu tố miêu tả:

  • Miêu tả cảnh sinh hoạt tại tỉnh lị Đồng Hới: “tụm năm tụm bảy mà đánh bạc”, “uể oải giở xem vài tờ báo”, “tụ tập ở quanh sân quần vợt”.
  • Miêu tả chân dung Phan Bội Châu: bộ áo dài Trung Quốc, người “cao lớn”, trán cao, đầu hói, mặt chữ điền, lông mày rậm, chòm râu đen, đôi mắt “sáng quắc”“dịu hiền”, giọng “sang sảng như chuông”.
  • Miêu tả không khí cuộc đón tiếp: hội quán chật kín, bầu không khí “lặng phắc”, mọi người “nín thở”.

b) Yếu tố biểu cảm:

  • Bộc lộ cảm xúc khi tưởng nhớ: “đến buổi xế chiều của cuộc đời, những đêm khó ngủ, tôi thường nhớ lại…”.
  • Cảm xúc dâng trào khi gặp Phan Bội Châu: “tôi chưa từng có” ấn tượng và cảm xúc như thế.
  • Trạng thái thao thức: “đêm hôm ấy tôi thao thức không ngủ được”.
  • Cảm giác được thúc giục: “lại thúc giục lòng tôi muốn đi xa”.

c) Vai trò:

  • Yếu tố miêu tả giúp tái hiện sinh động không gian, con người của một thời đã qua – làm cho kí ức trở nên cụ thể, rõ nét trong tâm trí người đọc.
  • Yếu tố biểu cảm cho thấy cảm xúc chân thành, sâu sắc của tác giả – biến hồi kí không chỉ là bản ghi chép sự kiện mà còn là dòng chảy tâm hồn.
  • Cả hai kết hợp làm cho hồi kí giàu sức hấp dẫn, có giá trị văn chương bên cạnh giá trị tư liệu.

Câu 7: Qua đoạn trích, bạn rút ra bài học gì về sự lựa chọn hướng đi khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Qua đoạn trích, em rút ra bài học:
    • Đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, mỗi người cần lựa chọn không chỉ một nghề nghiệp mà còn một lí tưởng, một hướng đi đúng đắn.
    • Cần dũng cảm thoát khỏi lối sống an phận, tầm thường để theo đuổi hoài bão lớn lao.
    • Học tập từ những tấm gương của các nhà yêu nước, các bậc tiền bối – để định hướng con đường của mình.
  • Cách 2: Bài học em rút ra là tuổi trẻ cần biết đặt mình vào dòng chảy của thời đại. Tác giả không chỉ chọn nghề nghiệp cho riêng mình mà còn gắn sự lựa chọn cá nhân với vận mệnh dân tộc. Đó là cách sống có ý nghĩa, khiến cuộc đời trở nên đáng nhớ, đáng tự hào.
  • Cách 3: Em học được rằng quyết định lớn của cuộc đời không thể chỉ dựa vào tính toán vật chất (như tác giả ban đầu chờ đỗ Tú tài để có lương cao). Đôi khi cần những cú hích tinh thần – như cuộc gặp gỡ với những con người vĩ đại – để thức tỉnh hoài bãohành động ngay vì lí tưởng.

V. Kết nối đọc – viết

Từ nội dung văn bản Bước vào đời và những trải nghiệm cá nhân, bạn hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về chủ đề: Khát vọng của tuổi trẻ hôm nay.

Đoạn văn tham khảo 1 – Khát vọng cống hiến cho đất nước:

Đọc Bước vào đời của Đào Duy Anh, em càng thấm thía rằng tuổi trẻ mỗi thời đại đều cần có khát vọng lớn lao. Nếu như thanh niên thời Đào Duy Anh khát khao thoát khỏi ách nô lệ, dấn thân vào con đường cứu nước theo tấm gương Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, thì tuổi trẻ hôm nay có khát vọng xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại hội nhập. Khát vọng ấy thể hiện ở việc học tập tri thức mới, nắm bắt công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, đưa hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè năm châu. Em thấy quanh mình có nhiều bạn trẻ dám nghĩ, dám làm: có bạn giành huy chương quốc tế, có bạn khởi nghiệp thành công, có bạn tình nguyện đến vùng sâu vùng xa. Khát vọng của tuổi trẻ hôm nay không chỉ là chuyện của riêng mỗi cá nhân mà còn là sức mạnh đưa dân tộc vươn xa.

Đoạn văn tham khảo 2 – Khát vọng khẳng định bản thân và có ích cho cộng đồng:

Từ hình ảnh chàng thanh niên Đào Duy Anh trong Bước vào đời – dám rời bỏ chốn ao tù để tìm đến “nơi trời cao biển rộng” – em càng tin rằng khát vọng là điều làm nên tuổi trẻ. Tuổi trẻ hôm nay mang trong mình những khát vọng đa dạng: được khẳng định bản thân, được theo đuổi đam mê, được sống một cuộc đời có ý nghĩa. Không ai muốn trở thành “cá chậu chim lồng” như những công chức uể oải mà tác giả đã miêu tả. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, tuổi trẻ Việt Nam có nhiều cơ hội hơn để học tập, khám phá, sáng tạo. Điều quan trọng là biết kết hợp khát vọng cá nhân với trách nhiệm cộng đồng – đúng như bài học mà Đào Duy Anh đã để lại: sống không chỉ vì mình mà còn vì quê hương, dân tộc.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện