Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), biệt hiệu Hồng Hà nữ sĩ, người tỉnh Hưng Yên.
- Sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng: cha và anh đều đỗ đạt, làm nghề dạy học. Bản thân bà từng mở trường và dạy học cho cung nữ trong phủ chúa Trịnh.
- Là người tài sắc, biết nghề làm thuốc, văn chương nổi tiếng đương thời.
- Tác phẩm còn lại: Truyền kì tân phả và bản dịch (diễn âm) Chinh phụ ngâm khúc (nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn).
2. Tác phẩm
a) Tập Truyền kì tân phả
- Truyền kì tân phả (Cuốn phả mới về truyện “Truyền kì”) còn có tên khác là Tục Truyền kì lục.
- Tên truyện cho thấy tác giả muốn tiếp nối Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
- Bản gốc đã thất lạc; bản lưu truyền hiện nay do nhà sách Lạc Thiện xuất bản (đầu thế kỉ XIX).
b) Văn bản Hải khẩu linh từ
- Thể loại: truyện truyền kì.
- Xuất xứ: trích Truyền kì tân phả.
- Nhân vật chính: nàng Bích Châu – một cung phi đời Trần, tài sắc đức độ, luôn quan tâm chính sự.
- Nội dung: viết dựa trên sự kiện lịch sử có thật với những tên người, tên đất xác thực, kết hợp phần hư cấu nghệ thuật đậm nét cùng nhiều yếu tố kì ảo.
- Đền Hải Khẩu (nhân dân gọi là đền Bà Hải) thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu thuộc tỉnh Hà Tĩnh, đến nay vẫn được hương khói.
II. Trước khi đọc
Câu 1: Hãy chia sẻ cảm nhận về một số truyện dân gian có yếu tố kì ảo mà bạn từng đọc.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em từng đọc các truyện dân gian như Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, Tấm Cám, Sự tích Hồ Gươm… Các yếu tố kì ảo (nhân vật có phép lạ, vật thần kì, sự biến hoá…) đã tạo nên sức hấp dẫn kì diệu, đồng thời gửi gắm ước mơ, khát vọng của nhân dân về công lí, về sức mạnh chinh phục thiên nhiên.
- Cách 2: Em ấn tượng nhất với truyện Tấm Cám – nơi có sự biến hoá kì diệu của cô Tấm qua các kiếp (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Yếu tố kì ảo thể hiện niềm tin vào cái thiện tất thắng, đồng thời tạo cho câu chuyện dân gian một sức sống bền lâu.
Câu 2: Kể tên một số truyện truyền kì có yếu tố kì ảo mà bạn biết. Bạn có ấn tượng với tác phẩm nào nhất? Vì sao?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em biết đến một số truyện truyền kì như Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ). Em ấn tượng nhất với Chuyện người con gái Nam Xương – câu chuyện về Vũ Nương với những yếu tố kì ảo (được thần Rùa đưa xuống thuỷ cung, hiện về trên bến Hoàng Giang) đã làm nổi bật bi kịch oan khuất của người phụ nữ, đồng thời gửi gắm niềm tin vào cái thiện.
- Cách 2: Em biết đến Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ. Truyện có nhân vật Ngô Tử Văn cương trực, dám đốt đền, xuống âm phủ tranh tụng. Yếu tố kì ảo (âm phủ, hồn ma, xử án dưới cõi âm) đã làm nổi bật lẽ công bằng và tinh thần kiên cường của kẻ sĩ – đó là điều khiến em cảm phục.
III. Trong khi đọc
1. Giới thiệu lai lịch, chân dung nhân vật chính
- Lai lịch: Nguyễn Cơ – cung phi triều Trần, con gái nhà quan, tên chữ (tiểu tự) là Bích Châu.
- Chân dung: “tính tình đứng đắn, dung nhan tươi tắn, lại thông hiểu âm luật”.
- Được vua Duệ Tông “biết tiếng, cho kén vào cung”.
- Sau khi ứng khẩu đối được vế đối của vua trong tiệc Trung thu, nàng được vua ban tên “Phù Dung” và được yêu quý hơn tất cả các cung phi.
-> Chỉ vài nét giới thiệu ngắn gọn, tác giả đã dựng lên chân dung một cung phi tài sắc vẹn toàn, thông tuệ.
2. Những chi tiết gợi sự linh thiêng, huyền bí có tác động như thế nào tới cảm xúc của bạn?
Các chi tiết linh thiêng, huyền bí:
- Lời các phụ lão về thần miếu hiển linh ở cửa biển.
- Đám mây đen “lấn vào ngôi sao thứ tư bắc cực” mà Bích Châu quan sát nửa đêm.
- Bích Châu bói quẻ Kinh Dịch “trúng vào quẻ Phục biến sang quẻ Di”.
- Trận gió lốc cuốn cờ đào, sóng biển gào thét.
Tác động tới cảm xúc:
- Tạo cảm giác rùng rợn, kì bí, hồi hộp.
- Gợi ấn tượng về một thế giới đầy huyền bí, nơi con người và thế lực siêu nhiên có thể tương tác với nhau.
- Báo hiệu một biến cố lớn sắp xảy ra, đẩy câu chuyện vào cao trào.
3. Dự đoán về hành động, ứng xử của nhân vật Bích Châu
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em dự đoán Bích Châu sẽ hi sinh bản thân để cứu vua và đoàn quân. Vì nàng vốn là người trọng nghĩa vua tôi, đã từng dâng biểu can gián, xin đi hộ giá – lời thề “đã không lấy lòng trung can gián nổi… thật là sống thừa trong cõi đất trời” đã báo hiệu điều đó.
- Cách 2: Em dự đoán Bích Châu sẽ tự nguyện gieo mình xuống biển để giải oan khiên, cứu tính mạng ba quân. Đây là hành động của một liệt nữ, phù hợp với phẩm chất kiên trung đã được khắc hoạ ở nàng từ trước.
4. Dự đoán về diễn biến câu chuyện
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em dự đoán câu chuyện sẽ tiếp tục với việc vua Lê Thánh Tông giúp Bích Châu rửa oan, tiêu diệt yêu quái, đưa nàng thoát khỏi thuỷ cung. Đây là mô típ quen thuộc trong truyện truyền kì – cái ác bị trừng trị, cái thiện được cứu vớt.
- Cách 2: Em dự đoán vua Lê Thánh Tông sẽ gặp Bích Châu qua giấc mộng, được nàng chỉ dẫn cách trừ yêu quái. Sau đó vua sẽ lập đền thờ để tưởng nhớ nàng – phù hợp với đề tài “đền thiêng cửa bể” mà nhan đề gợi ra.
5. Chú ý nội dung đối thoại qua thư trao đổi giữa Quảng Lợi vương và Lê Thánh Tông
- Thư vua Lê Thánh Tông: viết theo lối biền ngẫu, trang trọng; tố cáo tội ác của Giao thần: “làm yêu làm quái, hiếp oan cung nữ vua Trần, tham sắc tham tài, lại nhiễu hại tính mệnh dân lành”; yêu cầu Quảng Lợi vương phải “nghiêm dùng quốc pháp, giết bọn gian tà”.
- Thư Quảng Lợi vương đáp lại: cũng theo lối biền ngẫu; nhận lỗi vì đã dùng người không xứng đáng (“gian tà còn che lấp thông minh”); hứa xử trị Giao thần theo pháp luật.
-> Nội dung hai bức thư cho thấy: thế giới thuỷ cung cũng có hệ thống pháp luật, kỉ cương như trần gian; hai vị vua trao đổi với nhau theo lối quốc thư đúng nghi thức, thể hiện ý niệm về công lí và luật pháp phổ quát.
6. Chú ý những chi tiết miêu tả việc thực thi luật pháp ở thuỷ cung
- Quảng Lợi vương hạ lệnh cho Ngạc tổng binh (cá sấu), Miết tòng sự (ba ba) đem quân đi bắt Giao đô đốc.
- Lí hàn lâm (cá chép) thảo thư, Long các thần sửa lại, Quy đốc bưu (rùa) làm giang sứ mang thư ra biển.
- Giao thần bị tuyên chỉ định tội, xử theo pháp luật một cách nghiêm minh: “Thật là đáng đem ra chém giết, dùng chính trăm hình; nhưng nghĩ đến đánh dẹp có công hãy khoan bát nghị đầy lên lục địa, cho được toàn sinh”.
-> Thuỷ cung được miêu tả giống hệt một triều đình phong kiến trần gian: có vua, có quan văn quan võ, có luật pháp, có nghi thức. Đây là thủ pháp “lấy kì nói thực” – mượn thế giới kì ảo để phản ánh hiện thực xã hội.
7. Chú ý sự lặp lại của yếu tố “giấc mộng” trong diễn biến của câu chuyện
Yếu tố “giấc mộng” xuất hiện ba lần:
- Lần 1: Vua Duệ Tông mộng thấy Giao thần (đô đốc vùng biển nam) đến đòi mĩ nữ.
- Lần 2: Vua Lê Thánh Tông mộng thấy Bích Châu hiện lên kể oan khuất, xin được cứu vớt và dâng ngọc Minh Châu.
- Lần 3: Vua Lê Thánh Tông lại mộng thấy Bích Châu (đã lên tiên) bày tỏ thắc mắc về câu kết bài thơ vua đề ở miếu.
-> Sự lặp lại của “giấc mộng” tạo kết cấu vòng tròn, gắn kết các phần của câu chuyện. Đây là thủ pháp đặc trưng của truyện truyền kì – dùng giấc mộng làm cầu nối giữa hai thế giới thực và ảo, giữa cõi trần và cõi âm.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Lập bảng thống kê các sự kiện, nhân vật, chi tiết,… có tính chất linh thiêng, kì ảo xuất hiện trong văn bản
| STT | Sự kiện / Nhân vật / Chi tiết | Vị trí trong truyện |
|---|---|---|
| 1 | Lời phụ lão về thần miếu hiển linh ở cửa biển | Trước khi vua đóng quân ở bãi vắng |
| 2 | Bích Châu quan sát thiên tượng: đám mây đen lấn vào sao Bắc Đẩu | Đêm khuya trước khi có bão |
| 3 | Bích Châu bói quẻ Kinh Dịch (quẻ Phục biến sang quẻ Di) | Nửa đêm trên thuyền |
| 4 | Trận gió lốc kì lạ, sóng biển gào thét | Sáng hôm sau |
| 5 | Giao thần (đô đốc vùng biển) hiện ra trong giấc mộng vua Duệ Tông, đòi mĩ nữ | Cuối canh ba |
| 6 | Bích Châu gieo mình xuống biển, gió tan mưa tạnh | Ngay sau đó |
| 7 | Bích Châu hiện lên trong giấc mộng vua Lê Thánh Tông, kể oan khuất, dâng ngọc Minh Châu | Đêm khuya, gần canh gà gáy |
| 8 | Ngọc Minh Châu soi thấy thuỷ cung: lầu son gác tía, con cháu ngư long | Sau khi vua tỉnh mộng |
| 9 | Quảng Lợi vương và bộ máy triều đình thuỷ cung xử tội Giao thần | Ở thuỷ cung |
| 10 | Thi thể Bích Châu nổi lên nguyên vẹn, vẻ đẹp bình sinh không thay đổi | Sau khi Giao thần biến mất |
| 11 | Bích Châu hiện lên lần 2 trong giấc mộng vua Lê Thánh Tông, xin đổi câu thơ | Đêm sau khi vua thắng trận về |
| 12 | Bích Châu được sắc phong Chế Thắng phu nhân, đền vẫn linh ứng đến đời nay | Kết truyện |
Câu 2: Thông qua lời can gián, suy nghĩ và hành động của nàng Bích Châu, bạn có nhận xét gì về phẩm chất, đức tính của mẫu hình người phụ nữ mà tác giả đã xây dựng trong truyện?
- Tài sắc vẹn toàn, thông tuệ: ứng khẩu đối được vế đối khó của vua; viết được bài biểu Kê minh thập sách với mười kế sách trị nước sâu sắc.
- Trung trinh, hết lòng vì nước, vì vua: thấy chính sự suy kém, chủ động dâng biểu can gián; khi vua muốn đánh Chiêm Thành, nàng lại dâng biểu khuyên “nghỉ việc binh để dân chúng yên vui”.
- Dũng cảm, hi sinh vì đại nghĩa: khi thấy sóng gió nguy nan, đã tự gieo mình xuống biển để cứu vua và ba quân, đúng với lời nàng nói: “khi hành quân, tướng sĩ là trọng, ân ái là nhẹ”.
- Trọng đạo lí, giữ trọn tiết nghĩa: ngay cả khi đã lên tiên, vẫn day dứt về nghĩa vua tôi, chồng vợ – xin vua đổi câu thơ ở miếu để giữ trọn cương thường.
-> Bích Châu là mẫu hình người phụ nữ lí tưởng dưới ngòi bút Đoàn Thị Điểm – tài sắc, đức độ, trung trinh, tiết nghĩa, hi sinh vì nước – xứng đáng là “anh kiệt trong đám nữ lưu”.
Câu 3: Sự đan xen giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo trong câu chuyện đã đóng vai trò như thế nào trong việc thể hiện thông điệp của tác phẩm?
a) Yếu tố lịch sử làm nền cốt lõi:
- Các nhân vật lịch sử có thật: vua Trần Duệ Tông, vua Lê Thánh Tông, Lương Thế Vinh…
- Các sự kiện lịch sử: cuộc chinh phạt Chiêm Thành của Trần Duệ Tông (1376) và của Lê Thánh Tông (thời Hồng Đức).
- Địa danh có thật: cửa biển Kỳ Hoa, động Ý Mang (Hà Tĩnh).
b) Yếu tố kì ảo tô đậm và làm nổi bật:
- Các chi tiết linh thiêng, giấc mộng, thuỷ cung, sự hiển linh của Bích Châu… tạo sức hấp dẫn li kì cho câu chuyện.
- Yếu tố kì ảo lí giải những điều lịch sử để lại nghi vấn (như thất bại của Trần Duệ Tông ở cửa Kỳ Hoa).
c) Vai trò trong việc thể hiện thông điệp:
- Ca ngợi phẩm chất trung trinh của Bích Châu – biến nàng thành biểu tượng bất tử.
- Đề cao vai trò của minh quân: vua Lê Thánh Tông biết lắng nghe, biết công bằng – đối lập với Trần Duệ Tông chủ quan, khinh địch.
- Khẳng định lẽ công bằng phổ quát: cái ác bị trừng trị dù ở cõi âm hay dương; điều thiện được đền đáp.
- Gửi gắm quan niệm về đạo trị nước: nên sửa văn nghỉ võ, làm điều nhân nghĩa, dùng người hiền.
Câu 4: Trong số các chi tiết, sự việc kì ảo trong Đền thiêng cửa bể, theo bạn, chi tiết hoặc sự việc nào hấp dẫn hơn cả? Vì sao?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1 – Chi tiết Bích Châu hiển linh dâng ngọc Minh Châu: Em thấy hấp dẫn nhất là chi tiết Bích Châu hiện lên trong giấc mộng vua Lê Thánh Tông, kể oan khuất và dâng viên ngọc triệt hải có thể soi thấu thuỷ cung. Chi tiết vừa giàu chất thơ, vừa cảm động, thể hiện được cả nỗi oan khuất lẫn lòng biết ơn của Bích Châu – và tạo bước ngoặt cho câu chuyện.
- Cách 2 – Chi tiết miêu tả thuỷ cung với bộ máy triều đình: Em thấy chi tiết thuỷ cung với đủ quan tướng (Ngạc tổng binh, Miết tòng sự, Lí hàn lâm, Quy đốc bưu…) hấp dẫn nhất. Đây là một sáng tạo độc đáo của tác giả: dùng các loài thuỷ tộc để tái hiện triều đình phong kiến, vừa hài hước, sinh động, vừa hàm chứa ý nghĩa hiện thực sâu sắc.
- Cách 3 – Chi tiết Bích Châu hiển linh lần 2 xin đổi câu thơ: Em thấy cảm động nhất là khi Bích Châu (đã lên tiên) vẫn hiện về xin vua đổi câu thơ ở miếu. Chi tiết cho thấy dù sang cõi tiên, nàng vẫn nặng lòng với nghĩa vua tôi, chồng vợ – trọn vẹn phẩm chất liệt nữ, khiến người đọc kính phục và xúc động.
Câu 5: Nêu suy nghĩ của bạn về quan điểm hiện thực của tác giả thể hiện qua:
a) Việc miêu tả “bộ máy nhà nước” của Quảng Lợi vương:
- Thuỷ cung được miêu tả giống hệt triều đình phong kiến ở trần gian: có vua (Quảng Lợi vương), có quan văn (Long thượng thư, Lí hàn lâm), quan võ (Ngạc tổng binh, Côn thừa tướng), có ngự sử (Ngao ngự sử), có luật pháp, có nghi thức…
- Đây là cách tác giả “mượn kì để nói thực”: qua thế giới kì ảo, phản ánh cấu trúc xã hội phong kiến đương thời với đủ thứ bậc, phẩm trật, quy chế.
- Ngay cả bộ máy siêu nhiên cũng có tệ nạn (Quảng Lợi vương nhận sai “dùng người không xứng đáng”, có kẻ dưới a dua) – phản ánh hiện thực xã hội với đủ mặt tốt xấu.
b) Nội dung hai bức thư trao đổi của vua Lê Thánh Tông và Quảng Lợi vương:
- Thư vua Lê Thánh Tông: đanh thép, mạnh mẽ, dùng nhiều điển tích khẳng định vương đạo, luật pháp; buộc tội Giao thần rõ ràng.
- Thư Quảng Lợi vương: khiêm nhường, biết nhận lỗi, hứa xử trị nghiêm minh theo hiến chương.
- Cả hai bức thư đều toát lên ý niệm về công lí và luật pháp phổ quát – “dẫu là hai nơi âm dương cách biệt, nhưng ba thước gươm sáng chẳng dung gian tà”.
- Qua đó, tác giả bày tỏ niềm tin vào một trật tự công bằng và quan điểm về đạo trị nước: người cầm quyền phải sáng suốt, công minh, biết trừng trị kẻ ác dù ở cõi nào.
Câu 6: Trình bày nhận xét về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại trong văn bản
- Văn bản sử dụng nhiều lời thoại phong phú ở cả hai thế giới – hữu hình (trần gian) và vô hình (thuỷ cung, giấc mộng).
- Ngôn ngữ đối thoại đa dạng theo từng nhân vật:
- Bích Châu: trang trọng, thấu tình đạt lí (khi can gián vua), thống thiết cảm động (khi từ biệt).
- Vua Duệ Tông: bộc trực, khi buồn rầu khi kiêu ngạo.
- Vua Lê Thánh Tông: chững chạc, độ lượng, mang khí phách minh quân.
- Giao thần: hống hách, ngang ngược.
- Quảng Lợi vương và triều thần thuỷ cung: nghiêm cẩn, đúng nghi thức.
- Đối thoại thúc đẩy cốt truyện, khắc hoạ tính cách nhân vật và hé lộ thông điệp của tác giả.
- Đặc biệt: có sự đan xen văn xuôi (tản văn), văn biền ngẫu và thơ trong lời thoại – đặc trưng của ngôn ngữ truyện truyền kì.
Câu 7: Bình luận về chi tiết nàng Bích Châu hiển linh giúp vua thắng trận và việc nàng được lập đền thờ
- Chi tiết Bích Châu hiển linh giúp vua thắng trận:
- Là cách “đền đáp” xứng đáng cho lòng trung trinh của nàng.
- Thể hiện quan niệm nhân quả: người hi sinh vì nước sẽ linh thiêng phù trợ cho hậu thế.
- Cho thấy sức mạnh vô hình của chính nghĩa: quân Lê Thánh Tông tiến đâu thắng đó là nhờ có sự phù trợ của các thế lực chính nghĩa.
- Việc nàng được lập đền thờ:
- Là hình thức tri ân của triều đình và nhân dân đối với người có công.
- Biến Bích Châu thành biểu tượng bất tử trong lòng dân tộc.
- Gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ liệt nữ – một nét đẹp trong văn hoá tinh thần người Việt.
- Cho đến nay, đền Bà Hải (đền Chế Thắng phu nhân) vẫn linh ứng, thể hiện sức sống bền vững của câu chuyện trong đời sống dân gian.
-> Chi tiết này vừa khép lại tác phẩm một cách trọn vẹn, vừa nâng nàng Bích Châu từ nhân vật cá biệt thành biểu tượng chung cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam: sống có ích, chết được tôn thờ.
V. Kết nối đọc – viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận của bạn về hình tượng nhân vật Bích Châu trong tác phẩm.
Đoạn văn tham khảo 1 – Bích Châu – biểu tượng của người phụ nữ trung trinh, tiết nghĩa:
Nhân vật Bích Châu trong Hải khẩu linh từ của Đoàn Thị Điểm để lại trong em ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp toàn vẹn của người phụ nữ Việt Nam thời trung đại. Nàng vừa tài sắc (thông hiểu âm luật, ứng khẩu đối được vế đối khó của vua), vừa thông tuệ (dâng bài biểu Kê minh thập sách với mười kế sách trị nước sâu sắc), lại vừa trung trinh, tiết nghĩa. Khi hoạ nạn ập đến, nàng đã tự nguyện gieo mình xuống biển để cứu vua và ba quân – một hành động anh hùng không kém bất kì bậc trượng phu nào. Ngay cả khi đã lên tiên, nàng vẫn nặng lòng với nghĩa vua tôi, chồng vợ. Bích Châu là hình tượng liệt nữ lí tưởng – vừa đảm việc chính sự, vừa giữ trọn đạo phu thê, xứng đáng được ngợi ca là “anh kiệt trong đám nữ lưu”.
Đoạn văn tham khảo 2 – Bích Châu – vẻ đẹp bất tử của lòng yêu nước:
Đọc Hải khẩu linh từ của Đoàn Thị Điểm, em thực sự khâm phục nhân vật Bích Châu – hình tượng người phụ nữ tài sắc mà trọn tình vẹn nghĩa. Không chỉ dừng ở vẻ đẹp “dung nhan tươi tắn” hay tài văn chương xuất chúng, Bích Châu còn có tấm lòng lo nước lo dân hiếm thấy. Nàng dâng biểu can gián vua, chỉ ra mười điều thiết thực cho vận nước; khi vua chủ quan khởi binh, nàng lại kiên trì khuyên can. Đến giờ phút hiểm nghèo, nàng sẵn sàng hi sinh thân mình vì đại cục – lời trăng trối “khi hành quân, tướng sĩ là trọng, ân ái là nhẹ” khiến người đọc rơi nước mắt. Chính vì sự trung liệt ấy, Bích Châu được truyền tụng, được hiển linh giúp nước, được nhân dân lập đền thờ phụng. Nàng đã trở thành biểu tượng bất tử của người phụ nữ Việt Nam yêu nước, thương dân.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
