Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt (Claude Lévi-Strauss, 1908 – 2009) là nhà nhân học, dân tộc học, triết học nổi tiếng người Pháp.
- Các nghiên cứu của ông bao trùm nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới.
- Tư tưởng nổi bật: tầm nhìn toàn cầu về nhân loại, chống lại việc độc tôn văn minh phương Tây, bảo vệ sự đa dạng văn hoá và cảnh báo nguy cơ thiên nhiên bị huỷ diệt.
- Tác phẩm tiêu biểu: Những cấu trúc sơ đẳng về thân tộc (1949), Chủng tộc và lịch sử (1952), Nhiệt đới buồn (1955), Nhân loại học cấu trúc (1958)…
2. Tác phẩm
a) Tác phẩm Nhiệt đới buồn
- Thể loại: vừa là tự truyện, du kí, vừa là ghi chép dân tộc học, du khảo triết học độc đáo.
- Hoàn cảnh sáng tác: viết sau hai mươi năm tác giả khảo sát thực địa ở Bra-xin – nơi ông có cơ hội tiếp xúc với nền văn hoá Anh điêng đang đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại.
- Giá trị: đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và về chính bản chất, lịch sử của nhân loại.
b) Văn bản Pa-ra-na
- Nhan đề: Pa-ra-na là tên một bang phía nam Bra-xin, được bao phủ bởi rừng bách tán – một trong những rừng cận nhiệt đới quan trọng nhất thế giới.
- Nội dung chính: ghi chép về lịch sử, cuộc sống của người Anh điêng vùng Pa-ra-na dưới tác động của chế độ thực dân.
- Phương thức biểu đạt: thuyết minh kết hợp tự sự, biểu cảm.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất – người trần thuật xưng “tôi”.
II. Trước khi đọc
Câu hỏi: Bạn biết gì về lịch sử, văn hoá của các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ? Chia sẻ với các bạn trong lớp những hiểu biết của bạn.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Nam Mỹ là vùng đất có nhiều dân tộc bản địa (còn gọi là người Anh điêng hoặc thổ dân da đỏ) sinh sống từ hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đặt chân đến. Nổi bật là các nền văn minh cổ như Inca, Maya, Aztec với những công trình kiến trúc, hệ thống lịch pháp và tôn giáo độc đáo. Từ thế kỉ XV – XVI, các dân tộc này bị người châu Âu (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) xâm lược, tàn sát, khiến dân số giảm mạnh và văn hoá bị mai một.
- Cách 2: Em biết rằng các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ có đời sống gắn liền với rừng núi, sông ngòi, tin vào các vị thần tự nhiên. Họ có ngôn ngữ, phong tục, trang phục riêng rất đặc sắc. Tuy nhiên, sau khi thực dân châu Âu đến, họ phải chịu nhiều bất công: bị xua đuổi khỏi vùng đất tổ tiên, bị ép đồng hoá theo văn hoá phương Tây. Đến nay, nhiều cộng đồng bản địa vẫn đang đấu tranh để bảo vệ bản sắc của mình.
III. Trong khi đọc
1. Tóm tắt ý chính của đoạn văn
Đoạn văn mở đầu giới thiệu địa điểm và tình huống đặc biệt: tại dải đất nhìn xuống hai bờ sông Ri-ô Ti-ba-gi, ở độ cao 1000 mét so với mặt biển, tác giả đã có lần đầu tiên tiếp xúc với những người hoang dã (người Anh điêng), trong chuyến đi cùng một trưởng chi nhánh của cơ quan bảo vệ người Anh điêng.
2. Tìm các chi tiết, cách diễn đạt thể hiện thái độ, quan điểm của tác giả
- “Thất vọng lớn cho tôi, như vậy người Anh điêng ở Ti-ba-gi vừa không hoàn toàn là ‘người Anh điêng thực thụ’, vừa, nhất là, không phải là ‘người hoang dã’.” -> thái độ thẳng thắn, không giấu giếm cảm xúc thất vọng ban đầu.
- “Họ đã cho tôi một bài học về sự thận trọng và tính khách quan.” -> thái độ khiêm nhường, nhận ra bài học từ chính đối tượng nghiên cứu.
- “Tìm thấy họ kém nguyên vẹn như tôi vẫn hi vọng, tôi sẽ khám phá ra rằng họ bí ẩn hơn là cái vẻ bề ngoài của họ có thể làm cho ta tưởng.” -> thái độ trân trọng, ngưỡng mộ vẻ đẹp ẩn giấu bên trong.
- Cách gọi “những người nguyên thuỷ” trong ngoặc kép -> hàm ý phản biện cách gọi coi thường của phương Tây.
- Nhận định về nền văn hoá của họ: “một tổng thể độc đáo mà việc nghiên cứu, dù có thể thiếu đi sự ý nhị, lại không hề đặt tôi vào một trường học kém giá trị” -> khẳng định giá trị ngang bằng của văn hoá bản địa.
-> Tác giả có thái độ khách quan, tôn trọng và trân trọng đối với nền văn hoá của người Anh điêng, đồng thời phê phán ngầm cách nhìn kì thị của xã hội phương Tây.
3. Bạn hiểu thế nào là cuộc đảo lộn kì lạ phá vỡ thế cân bằng phù phiếm giữa văn hoá hiện đại và văn hoá nguyên thuỷ?
- Trước đó: chính quyền thực dân cố gắng áp đặt văn minh lên người Anh điêng (xây nhà, cấp giường, gửi quần áo, dụng cụ…). Đó là một thế cân bằng “phù phiếm” vì chỉ hình thức, không có chiều sâu.
- Cuộc đảo lộn kì lạ: khi chính quyền bỏ mặc thổ dân tự kiếm sống, thì những lối sống cổ xưa, kĩ thuật truyền thống lại quay trở lại: họ phá giường làm củi, ngủ ngoài trời, giã gạo bằng tay, săn bằng cung tên thay vì súng, dùng cái khoan lửa thay que diêm…
-> Cuộc đảo lộn này cho thấy văn hoá bản địa không hề bị xoá bỏ mà chỉ tạm bị che phủ; khi có điều kiện, nó trỗi dậy mạnh mẽ, khẳng định sức sống bền bỉ của mình trước áp lực của văn minh hiện đại.
4. Chú ý thái độ, hành xử của người Anh điêng với những thứ được coi là sản phẩm của văn minh, tiến bộ
- Chỉ giữ lại một vài thứ thiết yếu: quần áo Bra-xin, cái rìu, con dao, chiếc kim khâu.
- Không dùng nhà được xây, vẫn sống ngoài trời.
- Phá giường làm củi đun, nằm ngủ dưới đất.
- Không chấp nhận đàn bò được gửi tới, từ chối thịt và sữa bò.
- Không dùng chày gỗ cơ khí (môn-giô-lô), vẫn giã gạo bằng tay.
- Không dùng que diêm, thích quay hai mẩu gỗ mềm của cái khoan lửa.
- Không dùng súng trường, súng lục được cấp phát, mà săn bằng cung tên.
-> Người Anh điêng kiên trì bảo vệ lối sống truyền thống, cho thấy văn hoá bản địa có sức sống mãnh liệt và không dễ bị thay thế bởi “văn minh” ngoại lai.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Văn bản cho bạn biết những thông tin gì về số phận của người bản địa trong lịch sử? Nêu nhận xét về những thông tin đó.
a) Thông tin về số phận người bản địa qua các mốc thời gian:
| Thời gian | Sự kiện |
|---|---|
| Trước thời kì thuộc địa | Người Giê (Gé) sinh sống trên toàn bộ khu vực nam Bra-xin. |
| Vài thế kỉ trước | Người Tu-pi xâm lược, chiếm dải bờ biển; người Giê rút vào vùng khó thâm nhập. |
| Sau đó | Người Tu-pi bị thực dân xoá sổ; người Giê tồn tại đến thế kỉ XX, bị truy đuổi tàn bạo, phải trốn biệt. |
| Khoảng năm 1914 | Phần lớn người Giê bị chính phủ Bra-xin ép định cư ở các trung tâm để “khai hoá văn minh”. |
| Hai mươi năm sau | Chính quyền bỏ mặc, để họ tự kiếm sống -> họ quay lại lối sống cổ xưa. |
b) Nhận xét:
- Số phận của người bản địa là bi kịch: bị xâm lược, truy đuổi, tàn sát, ép đồng hoá qua nhiều thế hệ.
- Họ liên tục bị đẩy khỏi vùng đất tổ tiên, bị coi là “đối tượng cần khai hoá”.
- Tuy nhiên, họ vẫn kháng cự và giữ được bản sắc văn hoá, cho thấy sức sống bền bỉ của các nền văn hoá bản địa trước sức ép của thực dân phương Tây.
Câu 2: Thông tin về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân được triển khai qua những dữ liệu nào? Từ những dữ liệu đó, bạn có nhận xét gì về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân và những người da đỏ bản xứ?
a) Bảng đối chiếu các dữ liệu:
| Chính quyền thực dân | Người bản xứ |
|---|---|
| Ép định cư trong các ngôi làng, coi là đối tượng cần khai hoá. | Vẫn sống du cư. |
| Gửi đến rìu, dao, đinh, chày gỗ; phân phát quần áo, chăn. | Chỉ giữ lại một vài thứ thiết yếu, phần còn lại không dùng đến. |
| Xây nhà, cấp giường. | Vẫn sống ở ngoài trời, phá giường làm củi đun. |
| Gửi đến những đàn bò. | Để mặc chúng lang thang, từ chối thịt và sữa bò. |
| Cấp súng trường, súng lục, que diêm, chày cơ khí. | Vẫn dùng cung tên, khoan lửa, giã gạo bằng tay. |
b) Nhận xét về mối quan hệ:
- Là mối quan hệ xung đột về quyền lực và văn hoá: một bên là nỗ lực áp đặt, đồng hoá của thực dân, một bên là sự kháng cự âm thầm nhưng bền bỉ của người bản xứ.
- Công cuộc “khai hoá” của chính quyền thực dân về cơ bản là thất bại – văn minh phương Tây chỉ để lại dấu vết hời hợt trên bề mặt.
- Cho thấy sự bền vững, sức sống mãnh liệt của văn hoá bản địa trước sức ép của văn minh ngoại lai.
Câu 3: Phân tích vai trò của người trần thuật xưng “tôi” trong văn bản
Người trần thuật xưng “tôi” (chính là tác giả) đảm nhiệm hai vai trò chính:
- Vai trò của nhà nhân học – dân tộc học: trực tiếp quan sát, khảo cứu, thu thập dữ liệu, ghi chép và mô tả cụ thể, khách quan về lịch sử, cuộc sống của người Anh điêng.
- Vai trò của nhà tư tưởng: không dừng ở việc miêu tả bề mặt, “tôi” còn suy ngẫm, phân tích, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật và những xung đột quyền lực ẩn giấu bên dưới các sự kiện.
Hiệu quả:
- Tăng tính chân thực, đáng tin cậy cho văn bản – vì đây là ghi chép của người trong cuộc, người trực tiếp trải nghiệm.
- Bộc lộ rõ thái độ, quan điểm của tác giả: thẳng thắn thừa nhận cảm xúc (“thất vọng lớn”), khiêm nhường học hỏi (“bài học về sự thận trọng”), trân trọng đối tượng nghiên cứu.
- Kết nối giữa dữ liệu khoa học và suy ngẫm triết học, làm cho văn bản vừa giàu thông tin vừa giàu chất suy tưởng.
Câu 4: Các dữ liệu được cung cấp trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Giá trị của các dữ liệu đó là gì?
Văn bản kết hợp cả hai loại dữ liệu:
a) Dữ liệu sơ cấp (thu thập trực tiếp):
- Được tác giả quan sát, ghi chép trực tiếp trong chuyến khảo sát ở Pa-ra-na: “lần đầu tiên tôi đã tiếp xúc với những người hoang dã, trong khi đi theo một trưởng chi nhánh của cơ quan bảo vệ người Anh điêng”.
- Các mô tả cụ thể, sinh động về cuộc sống hiện tại của người Anh điêng: chày đá, đĩa sắt tráng men, chiếc máy khâu bỏ hoang, người đi săn bằng cung tên…
- Giá trị: làm văn bản mới mẻ, thú vị, gây tò mò; giúp người đọc hình dung cụ thể, sống động bức tranh cuộc sống người Anh điêng; phá bỏ định kiến về các cộng đồng thiểu số bị coi là “man rợ”.
b) Dữ liệu thứ cấp (thu thập gián tiếp):
- Các thông tin lịch sử về người Giê, người Tu-pi: “Vào thời kì phát hiện ra xứ sở này, toàn bộ khu vực nam Bra-xin là nơi trú ngụ của những nhóm người… xếp chung dưới tên gọi là Giê”.
- Các mốc thời gian, sự kiện lịch sử (thế kỉ XX, năm 1914, 1935…).
- Giá trị: giúp người đọc hiểu được bối cảnh lịch sử, thấy được tình thế ngặt nghèo kéo dài mà người Anh điêng phải đối mặt. Tuy nhiên, do không ghi rõ nguồn, người đọc có thể chất vấn về tính chính xác.
Câu 5: Hãy cho biết lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản. Bằng cách nào bạn nhận ra điều đó?
a) Lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả:
- Lập trường khách quan: đứng ở vị trí của người nghiên cứu khoa học, cung cấp cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để lí giải quá trình hình thành, biến động của văn hoá Anh điêng.
- Thái độ: thận trọng, khiêm nhường, ngưỡng mộ vẻ đẹp và sức sống của nền văn hoá bản địa.
- Quan điểm: phản biện tư tưởng “dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm), phản biện định kiến coi các dân tộc thiểu số là lạc hậu; khẳng định sự bình đẳng và đa dạng giữa các nền văn hoá.
b) Cách nhận ra:
- Qua cách chọn lọc dữ liệu: tác giả cung cấp cả dữ liệu về thất bại của công cuộc khai hoá và sự trỗi dậy của lối sống cổ xưa -> cho thấy thái độ nghiêng về phía văn hoá bản địa.
- Qua các từ ngữ bộc lộ cảm xúc: “thất vọng lớn cho tôi”, “họ đã cho tôi một bài học về sự thận trọng và tính khách quan”, “những đồ vật khiến ta trầm tư”…
- Qua các bình luận triết lí: khẳng định văn hoá của người Anh điêng là “một tổng thể độc đáo”, việc nghiên cứu họ “không hề đặt tôi vào một trường học kém giá trị”.
- Qua cách gọi tên đối tượng: đặt cụm từ “những người nguyên thuỷ” trong ngoặc kép -> hàm ý phản biện cách gọi kì thị của phương Tây.
Câu 6: Thông điệp bạn nhận được từ văn bản là gì? Đặt trong bối cảnh ra đời của văn bản, theo bạn, thông điệp đó có ý nghĩa gì?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Thông điệp của văn bản là lời kêu gọi tôn trọng sự đa dạng văn hoá và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Không có nền văn hoá nào là “cao hơn” hay “thấp hơn” – mỗi nền văn hoá đều có giá trị riêng, sức sống riêng. Đặt trong bối cảnh giữa thế kỉ XX (năm 1955), khi chủ nghĩa thực dân đang bị lung lay, khi tư tưởng “phương Tây là trung tâm” còn thống trị, thông điệp này có ý nghĩa cách mạng: phản biện tư tưởng thực dân và mở đường cho cái nhìn nhân văn hơn về các dân tộc bản địa.
- Cách 2: Văn bản mang đến thông điệp về sức sống bền bỉ của văn hoá truyền thống trước áp lực của văn minh hiện đại. Dù bị “khai hoá” tàn bạo, người Anh điêng vẫn giữ vững lối sống của tổ tiên. Trong bối cảnh thế giới sau chiến tranh đang toàn cầu hoá nhanh chóng, thông điệp này cảnh báo: cần giữ gìn bản sắc dân tộc, không để các giá trị truyền thống bị nhấn chìm trong dòng chảy chung.
- Cách 3: Thông điệp của văn bản là lời kêu gọi sống hài hoà với thiên nhiên và tôn trọng những nền văn hoá khác biệt. Người Anh điêng dù bị coi là “hoang dã” nhưng lại có mối liên hệ sâu sắc với tự nhiên và những giá trị nhân bản đáng học hỏi. Trong bối cảnh thiên nhiên đang bị huỷ hoại bởi nền công nghiệp hiện đại, thông điệp ấy càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc.
V. Kết nối đọc – viết
Văn bản gợi cho bạn suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã? Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn.
Đoạn văn tham khảo 1 – Văn minh và hoang dã không phải là hai đối cực:
Đọc Pa-ra-na của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt, em suy nghĩ nhiều về mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã. Lâu nay, người ta thường đặt hai khái niệm ấy đối lập nhau: văn minh là tiến bộ, hoang dã là lạc hậu. Nhưng qua câu chuyện về người Anh điêng ở Pa-ra-na, em nhận ra cách nhìn ấy quá phiến diện. Cái gọi là “văn minh” mà thực dân áp đặt – nhà cửa, giường tủ, súng đạn – lại không phù hợp với đời sống bản địa; trong khi những lối sống “hoang dã” như săn bằng cung tên, giã gạo bằng tay lại có sức sống bền bỉ và hài hoà với thiên nhiên. Vì thế, em cho rằng văn minh và hoang dã không phải là hai đối cực, mà là hai cách sống khác nhau, cần được tôn trọng như nhau. Áp đặt một bên lên bên kia chỉ dẫn đến bất công và huỷ hoại.
Đoạn văn tham khảo 2 – Bài học từ sự trở về của lối sống cổ xưa:
Văn bản Pa-ra-na đã gợi cho em nhiều suy ngẫm về mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã. Chi tiết ấn tượng nhất là khi chính quyền thực dân bỏ mặc người Anh điêng tự kiếm sống, thì lối sống cổ xưa của họ lại trỗi dậy mạnh mẽ: giường bị phá làm củi, nhà bỏ hoang, cung tên thay súng đạn. Điều đó cho thấy văn minh phương Tây không phải là mẫu số chung áp dụng cho mọi dân tộc; và cái gọi là “hoang dã” thực ra là một hệ giá trị bền vững đã được tổ tiên gìn giữ qua nhiều thế kỉ. Em nghĩ rằng văn minh đích thực không phải là ép buộc các dân tộc khác giống mình, mà là biết tôn trọng sự khác biệt và học hỏi lẫn nhau. Chỉ khi ấy, con người mới có thể sống hài hoà với nhau và với thiên nhiên.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
