Soạn bài: Thực hành tiếng Việt: Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Quyền sở hữu trí tuệ và đạo văn

a) Quyền sở hữu trí tuệ: là quyền sở hữu đối với kết quả của hoạt động sáng tạo của con người. Với văn học, khoa học, nghệ thuật, quyền này thường được gọi là quyền tác giả (bản quyền).

b) Đạo văn: là hành vi sử dụng ý tưởng, thông tin, cách diễn đạt của người khác mà không dẫn nguồn. Đạo văn bị xem là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thiếu trung thực trong học thuật.

c) Lưu ý: Có những tri thức phổ quát, được mặc định là tài sản chung của cộng đồng – không cần dẫn nguồn.

  • Ví dụ: “Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời”, “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ”, “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”.

2. Các cách trích dẫn

a) Trích dẫn trực tiếp:

  • Dẫn nguyên văn ý tưởng, câu chữ của tác giả gốc.
  • Đặt phần trích trong dấu ngoặc kép.
  • Ghi rõ nguồn (tác giả, tác phẩm, nhà xuất bản, năm, trang).
  • Nếu văn bản gốc có chỗ sai sót, vẫn phải dẫn nguyên văn; có thể dùng kí hiệu [sic] (nghĩa là “nguyên văn như vậy”) hoặc cước chú để chú thích.
  • Nếu cắt bớt một phần, dùng kí hiệu […] để đánh dấu.
  • Ví dụ: Nguyễn Đăng Mạnh đánh giá: “Ông không hoàn toàn thoát li thực tại, nhưng nhìn thực tại ông chỉ thấy vẻ đẹp, chất thơ thuộc về những cái của ngày xưa còn vương sót lại”.

b) Trích dẫn gián tiếp:

  • Tóm lược, diễn đạt lại ý tưởng của người khác bằng lời của mình.
  • Không dùng dấu ngoặc kép.
  • Vẫn phải ghi rõ nguồn (tác giả, tác phẩm).
  • Ví dụ: Theo Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Tuân không thoát li thực tại nhưng chỉ tìm thấy vẻ đẹp ở những giá trị xưa cũ còn sót lại.

3. Một số hình thức khác

  • Cước chú: ghi chú thích ở cuối trang.
  • Tài liệu tham khảo: được đặt sau văn bản (báo cáo nghiên cứu, luận văn, sách chuyên khảo…), liệt kê đầy đủ các công trình đã tham khảo.

II. Thực hành tiếng Việt

Bài tập 1 (SGK tr. 79): Tìm trong văn học Việt Nam thời trung đại một số trường hợp mượn ý tưởng hoặc mượn nguyên câu chữ từ một tác phẩm khác

Trong văn học trung đại, việc mượn ý tưởng, mượn câu chữ, mượn điển tích từ các tác phẩm đi trước là hiện tượng phổ biến, thường được xem là dấu hiệu của sự học rộng, biết nhiều. Một số trường hợp tiêu biểu:

  • Truyện Kiều (Nguyễn Du) – được sáng tạo dựa trên cuốn tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Nguyễn Du đã mượn cốt truyện, hệ thống nhân vật nhưng sáng tạo lại bằng thơ lục bát và tinh thần dân tộc Việt.
  • Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn) – sử dụng nhiều điển tích, thi liệu từ thơ Đường và văn học Trung Quốc.
  • Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) – chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu, Trung Quốc) về mô hình truyện truyền kì.
  • Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) – sử dụng nhiều điển tích, điển cố trong văn học Trung Quốc như: Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Vương Công Kiên

-> Đây là hiện tượng bình thường trong văn học trung đại, khác với quan niệm hiện đại về đạo văn.

Bài tập 2 (SGK tr. 79): Xác định các dấu hiệu cho thấy người viết có ý thức tuân thủ quy định về trích dẫn

Đoạn văn:

“Đánh giá về nhà văn Nguyễn Tuân, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh viết: ‘Ông không hoàn toàn thoát li thực tại, nhưng nhìn thực tại ông chỉ thấy vẻ đẹp, chất thơ thuộc về những cái của ngày xưa còn vương sót lại. […] Hồi ấy, đối với những cái hiện tại ông thường chỉ dành cho những lời khinh bạc. Nhưng đối với những cái của ngày xưa, giọng văn của ông bao giờ cũng đôn hậu.’.” (Bài làm của học sinh)

Các dấu hiệu tuân thủ quy định trích dẫn:

  • Nêu rõ tên tác giả của phần được trích dẫn: Nguyễn Đăng Mạnh và giới thiệu vai trò (“nhà nghiên cứu”).
  • Nêu rõ đối tượng được đánh giá: nhà văn Nguyễn Tuân.
  • Đặt phần trích dẫn trong dấu ngoặc kép: “Ông không hoàn toàn thoát li thực tại…”.
  • Dẫn đúng nguyên văn ý kiến của tác giả.
  • Sử dụng kí hiệu […] để đánh dấu phần đã cắt bỏ.
  • Ghi rõ nguồn gốc của đoạn văn: (Bài làm của học sinh).

Bài tập 3 (SGK tr. 79): Viết lại các đoạn văn dùng cách dẫn trực tiếp thành đoạn văn dùng cách dẫn gián tiếp, mang tính chất tóm lược

a) Đoạn văn của Phong Tử Khải:

  • Nguyên văn (dẫn trực tiếp): Trong “Yêu và đồng cảm” của Phong Tử Khải có đoạn viết: “Nói cách khác, con người ta vốn là nghệ thuật, vốn giàu lòng đồng cảm. Chỉ vì lớn lên bị cách nghĩ của người đời dồn ép, nên tấm lòng ấy mới bị cản trở hoặc hao mòn. Chỉ có kẻ thông minh mới không khuất phục, dù bên ngoài chịu đủ thứ áp bức thì bên trong vẫn giữ được lòng đồng cảm đáng quý nọ. Những người ấy chính là nghệ sĩ.”.
  • Viết lại (dẫn gián tiếp, tóm lược): Trong tác phẩm Yêu và đồng cảm, Phong Tử Khải cho rằng con người vốn giàu lòng đồng cảm, nhưng áp lực của cách nghĩ đời thường có thể làm phẩm chất ấy bị cản trở, hao mòn. Chỉ những kẻ thông minh, giữ được sự độc lập bên trong mới bảo tồn được lòng đồng cảm quý báu ấy – và đó chính là nghệ sĩ.

b) Đoạn văn của A. Anh-xtanh:

  • Nguyên văn (dẫn trực tiếp): A. Anh-xtanh quan niệm: “Chỉ cá thể đơn lẻ mới có thể tư duy và qua đó, tạo ra những giá trị mới cho xã hội, vâng, thậm chí đề ra những quy phạm đạo đức mới để đời sống cộng đồng hướng theo. Nếu không có những cá thể sáng tạo, suy nghĩ và phán xét độc lập, thì sự phát triển lên cao của xã hội là khó tưởng tượng; cũng như vậy, một cá thể đơn lẻ sẽ không thể phát triển nếu thiếu mảnh đất dinh dưỡng của cộng đồng.”.
  • Viết lại (dẫn gián tiếp, tóm lược): Trong bài viết Cộng đồng và cá thể, A. Anh-xtanh khẳng định chỉ cá thể đơn lẻ mới có khả năng tư duy độc lập để tạo ra giá trị mới và cả quy phạm đạo đức mới cho xã hội. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng cá thể không thể phát triển nếu tách rời môi trường nuôi dưỡng của cộng đồnghai yếu tố này gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời.

Bài tập 4 (SGK tr. 79): Nêu quan điểm của bạn về vấn đề đạo văn. Tự nhận xét về việc bản thân sử dụng ý tưởng của người khác khi thực hiện các bài viết trong quá trình học tập

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

a) Quan điểm về đạo văn:

  • Cách 1: Em cho rằng đạo văn là hành vi thiếu trung thực, không tôn trọng công sức sáng tạo của người khác. Trong bối cảnh xã hội hiện đại – khi quyền sở hữu trí tuệ được coi trọng và pháp luật bảo vệ – đạo văn không chỉ vi phạm đạo đức mà còn có thể vi phạm pháp luật. Đạo văn khiến người viết đánh mất uy tín cá nhân, làm mất niềm tin trong học thuậtcản trở sự sáng tạo của chính mình.
  • Cách 2: Em kịch liệt phản đối đạo văn. Vì đạo văn là “ăn cắp” thành quả trí tuệ của người khác – không khác gì trộm cắp tài sản vật chất. Người đạo văn tự lừa dối mình và người khác, không phát triển được năng lực tư duy độc lập. Về lâu dài, nó tạo ra một thế hệ lười biếng, thụ động, thiếu bản lĩnh trí thức.
  • Cách 3: Em nhìn nhận đạo văn ở hai mức độ. Một mặt, đạo văn có ý thức (sao chép, không dẫn nguồn) là hành vi sai trái cần lên án. Mặt khác, có những trường hợp vô ý do người viết chưa được trang bị đầy đủ kĩ năng trích dẫn – trường hợp này cần được giáo dục, hướng dẫn để phòng tránh. Vì thế, em cho rằng giáo dục về quyền sở hữu trí tuệ là điều cần thiết ngay từ nhà trường.

b) Tự nhận xét về bản thân:

  • Cách 1: Trong quá trình học tập, em nhận thấy đôi khi chưa thực sự chú ý đến việc trích dẫn nguồn khi tham khảo ý tưởng của người khác – nhất là khi làm các bài tập ngắn. Từ bài học này, em sẽ rèn luyện thói quen ghi chú nguồn ngay khi tham khảo tài liệu, để tránh vô tình vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
  • Cách 2: Em tự nhận thấy mình cần cải thiện kĩ năng viết bài. Khi viết văn, em thường tham khảo nhiều nguồn nhưng chưa biết cách trích dẫn đúng chuẩn. Sau bài học này, em sẽ chú ý hơn: dùng ngoặc kép khi dẫn trực tiếp, ghi rõ tác giả và tác phẩm khi dẫn gián tiếp, và luôn kiểm tra lại để đảm bảo bài viết trung thực, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.
  • Cách 3: Em cho rằng bản thân đã có ý thức khá tốt về việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ – luôn cố gắng diễn đạt bằng lời của mình khi tham khảo tài liệu. Tuy nhiên, em nhận ra vẫn cần học hỏi thêm về cách trích dẫn theo chuẩn học thuật (đặc biệt là phần tài liệu tham khảo ở cuối bài) để chuẩn bị cho việc học tập ở bậc cao hơn sau này.
ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện