Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Biện pháp tu từ nhân hoá
- Khái niệm: Nhân hoá là cách gọi hoặc miêu tả sự vật, con vật, cây cối… bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người.
- Tác dụng: Làm cho sự vật vô tri vô giác trở nên cụ thể, sinh động, gần gũi, có hồn hơn; tăng sức gợi hình, gợi cảm.
- Ví dụ: “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” (Tây Tiến – Quang Dũng) – cây súng được gán hành động “ngửi trời” của con người, gợi tư thế tinh nghịch, ngang tàng của người lính.
2. Biện pháp tu từ ẩn dụ
- Khái niệm: Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi.
- Tác dụng: Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; tạo hình ảnh hàm súc, đa nghĩa.
- Ví dụ: “Thuyền về có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” (Ca dao) – “thuyền” ẩn dụ cho người ra đi, “bến” ẩn dụ cho người ở lại.
3. Biện pháp tu từ điệp ngữ
- Khái niệm: Điệp ngữ là cách lặp lại từ ngữ (hoặc cả câu) để làm nổi bật ý.
- Tác dụng: Tăng cường hiệu quả diễn đạt, nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc và tạo nhịp điệu cho câu văn, đoạn thơ.
- Ví dụ: “Nhớ sao ngày tháng cơ quan / … Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều” (Việt Bắc – Tố Hữu) – điệp “nhớ sao” nhấn mạnh nỗi nhớ da diết.
4. Biện pháp tu từ đối
- Khái niệm: Đối là cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, vế câu đối xứng, cân xứng nhau (thường trái ngược nhau về nghĩa) trong một cụm từ, một câu hoặc một cặp câu.
- Tác dụng: Tạo vẻ đẹp cân xứng, hài hoà cho lời thơ, câu văn; tăng hiệu quả diễn đạt.
- Ví dụ: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao” (Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm) – đối “ta dại – người khôn”, “nơi vắng vẻ – chốn lao xao”.
II. Thực hành tiếng Việt
Bài tập 1 (SGK tr. 51): Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá
a) “Chiều chiều oai linh thác gầm thét / Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” (Quang Dũng, Tây Tiến)
- Hình ảnh nhân hoá: “thác gầm thét”, “cọp trêu người”.
- Tác dụng:
- Tái hiện khung cảnh rừng già hoang vu, bí ẩn, đầy hiểm nguy của núi rừng Tây Bắc – âm thanh dữ dội của thác nước ở tầng trên và tiếng chân cọp đe doạ ở tầng dưới.
- Làm bật lên sự hiểm nguy hàng ngày mà chiến binh Tây Tiến phải trải qua, đồng thời tô đậm vẻ đẹp kiên cường, anh dũng của họ.
- Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.
b) “Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha” (Nguyễn Đình Thi, Đất nước)
- Hình ảnh nhân hoá: “trời thu thay áo mới”, “nói cười thiết tha”.
- Tác dụng:
- Gợi hình ảnh bầu trời thu như một con người trong màu áo mới – tươi tắn, ấm áp, biết “nói cười thiết tha”.
- Gợi khung cảnh tươi sáng và không khí tràn ngập niềm vui của mùa thu độc lập.
- Làm câu thơ sinh động, có hồn, giàu chất trữ tình.
Bài tập 2 (SGK tr. 51): Làm rõ mục đích và cách tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ trong đoạn thơ
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm / Mắt trừng gửi mộng qua biên giới / Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Quang Dũng, Tây Tiến)
- Hình ảnh ẩn dụ: “dữ oai hùm”, “dáng kiều thơm”.
- Mục đích và cách sử dụng:
- “Dữ oai hùm” ẩn dụ về khí phách oai phong, dũng mãnh của người lính Tây Tiến. Bất chấp hình hài tiều tuỵ, xanh xao vì bệnh sốt rét rừng, phong thái họ vẫn hùng dũng, oai nghiêm như chúa sơn lâm.
- “Dáng kiều thơm” ẩn dụ cho vẻ đẹp duyên dáng, yêu kiều của những thiếu nữ Hà thành – thể hiện nỗi nhớ quê nhà, khát vọng tình yêu và tâm hồn mơ mộng, lãng mạn của người lính.
- Tác dụng chung:
- Khắc hoạ hình tượng người lính Tây Tiến vừa hào hùng, vừa hào hoa.
- Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho đoạn thơ.
Bài tập 3 (SGK tr. 51): Cho biết biện pháp tu từ điệp ngữ đã được sử dụng như thế nào và đạt hiệu quả gì
a) “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời / Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống / Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” (Quang Dũng, Tây Tiến)
- Điệp ngữ: “dốc” (câu 1 – đặt ở đầu và giữa câu), “ngàn thước” (câu 3).
- Hiệu quả:
- “Dốc” lặp lại gợi tả những con dốc nối tiếp nhau, chồng chất lên nhau.
- “Ngàn thước” lặp lại gợi hình ảnh đỉnh núi cao ngất trời và vực sâu thăm thẳm.
- Nhấn mạnh sự hùng vĩ, hiểm trở của núi non vùng Tây Bắc.
- Tạo nhịp điệu trúc trắc, mô phỏng con đường hành quân gập ghềnh.
b) “tiếng ghi ta nâu / bầu trời cô gái ấy / tiếng ghi ta lá xanh biết mấy / tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan / tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy” (Thanh Thảo, Đàn ghi ta của Lor-ca)
- Điệp ngữ: “tiếng ghi ta” (lặp lại 4 lần).
- Hiệu quả:
- Nhấn mạnh những ấn tượng đa dạng về tiếng đàn – về nghệ thuật và tâm hồn Lor-ca.
- Tạo nhịp điệu ngân vang, mô phỏng chuỗi âm thanh của tiếng ghi ta.
- Gợi liên tưởng phong phú: tiếng đàn có màu (nâu, lá xanh), có hình (tròn bọt nước), có nỗi đau (ròng ròng máu chảy).
- Tăng cường hiệu quả diễn đạt và giai điệu cho đoạn thơ.
Bài tập 4 (SGK tr. 51): So sánh cách sử dụng biện pháp tu từ đối
a) “Gặp thời đồ điếu công thành dễ / Lỡ vận anh hùng hận xót xa / Phò chúa dốc lòng nâng trục đất / Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà” (Đặng Dung, Cảm hoài)
- Biện pháp đối: đối trong một cặp câu (thất ngôn Đường luật).
- “gặp thời” >< “lỡ vận”
- “đồ điếu” >< “anh hùng”
- “công thành dễ” >< “hận xót xa”
- “phò chúa” >< “tẩy binh”
- “dốc lòng” >< “khôn lối”
- “nâng trục đất” >< “kéo Ngân Hà”
- Tác dụng:
- Nhấn mạnh những “trải nghiệm” đau đớn và bày tỏ nỗi bi phẫn của nhân vật trữ tình – khát vọng lớn lao đối chọi với thực tế bất lực.
- Tạo vẻ đẹp cân xứng, hài hoà cho lời thơ.
b) “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi / Mường Lát hoa về trong đêm hơi” (Quang Dũng, Tây Tiến)
- Biện pháp đối: đối giữa hai câu thơ tự do.
- “Sài Khao” >< “Mường Lát” (đối địa danh)
- “sương lấp” >< “hoa về” (đối trạng thái cảnh vật)
- Tác dụng:
- Nhấn mạnh vẻ đẹp hai mặt của thiên nhiên miền sơn cước: vừa hiểm trở, giá lạnh (sương lấp), vừa thơ mộng, tình tứ (hoa về trong đêm hơi).
- Tạo vẻ đẹp cân xứng, nhịp nhàng cho lời thơ.
So sánh:
| Phương diện | Đoạn (a) – Cảm hoài | Đoạn (b) – Tây Tiến |
|---|---|---|
| Thể thơ | Thất ngôn Đường luật | Thơ hiện đại (7 chữ) |
| Kiểu đối | Đối chặt chẽ theo luật (đối cặp câu) | Đối tự do, linh hoạt |
| Nội dung đối | Đối lập giữa khát vọng và thực tế bất lực | Đối lập giữa nét dữ dội và nét thơ mộng |
| Giọng điệu | Bi tráng, xót xa | Trữ tình, mềm mại |
-> Cả hai đều dùng phép đối để tạo cân xứng, hài hoà và tăng hiệu quả diễn đạt, nhưng ở Cảm hoài đối theo luật nghiêm ngặt của thơ Đường, còn ở Tây Tiến đối được sử dụng linh hoạt, phóng khoáng hơn phù hợp với thơ hiện đại.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
