Soạn bài: Củng cố, mở rộng bài 7 (trang 58) – Ngữ văn 12

Câu 1: So sánh đặc điểm “ghi chép sự thật” của phóng sự và hồi kí qua hai văn bản Nghệ thuật băm thịt gàBước vào đời

a) Điểm giống nhau:

  • Cả hai đều thuộc loại hình kí, đều ghi chép sự thật (không hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn).
  • Đều sử dụng ngôi kể thứ nhất (“tôi”) – người kể trực tiếp tham dự, chứng kiến.
  • Đều kết hợp miêu tả, tự sự với biểu cảm; đều thể hiện thái độ, đánh giá của người viết.

b) Điểm khác nhau:

Phương diện Phóng sự (Nghệ thuật băm thịt gà) Hồi kí (Bước vào đời)
Đối tượng ghi chép Sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong đời sống đương thời (tập tục “chứa hàng xóm”, cảnh băm thịt gà) Sự kiện, biến cố đã xảy ra trong quá khứ (cuộc đón tiếp Phan Bội Châu năm 1925)
Cách ghi chép Quan sát, ghi chép tại chỗ, khách quan, chi tiết Hồi tưởng, dựa vào trí nhớ, mang tính chủ quan
Vai trò người viết Người chứng kiến, quan sát viên Nhân vật trung tâm, người trong cuộc
Mục đích Phản bác, phê phán nhận thức sai lệch; tác động đến nhận thức xã hội Chia sẻ trải nghiệm, suy tư cá nhân; tái hiện diện mạo lịch sử – xã hội một thời
Tính chất nổi bật Tính thời sự, tính chiến đấu cao Tính chủ quan, giàu cảm xúc cá nhân
Giọng điệu Châm biếm, mỉa mai (trong văn bản này) Trầm lắng, hoài niệm, chân thành

-> Dù cùng “ghi chép sự thật”, phóng sự hướng đến cái đang diễn ra với thái độ chiến đấu, còn hồi kí hướng đến cái đã qua với tâm thế hoài niệm, suy ngẫm.

Câu 2: Tìm đọc một số phóng sự và hồi kí tiêu biểu của Việt Nam trong những năm gần đây

Gợi ý một số tác phẩm:

a) Phóng sự tiêu biểu:

  • Huỳnh Dũng Nhân: Ăn Tết trong rừng chó sói, Kỉ niệm tác nghiệp… – các tập phóng sự về đời sống xã hội đương đại.
  • Đỗ Doãn Hoàng: Trần gian còn một thứ nghề, Ở lại với ngàn sao… – phóng sự về những cảnh đời, những vùng đất đặc biệt.
  • Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Ngọc Tiến: các tập phóng sự về Sài Gòn, Hà Nội xưa và nay.

b) Hồi kí tiêu biểu:

  • Tô Hoài: Cát bụi chân ai, Chiều chiều – hồi kí về giới văn nghệ sĩ và đời sống văn học Việt Nam thế kỉ XX.
  • Nguyễn Hiến Lê: Hồi kí Nguyễn Hiến Lê – kể về cuộc đời hoạt động dịch thuật, biên soạn sách.
  • Ma Văn Kháng: Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương – hồi kí về đời viết văn.
  • Đặng Thuỳ Trâm: Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm – nhật kí (thuộc thể loại kí) của nữ bác sĩ, liệt sĩ thời kháng chiến chống Mĩ.

-> Việc đọc thêm các tác phẩm phóng sự, hồi kí giúp em mở rộng vốn hiểu biết về thể loại, đồng thời hiểu sâu hơn về đời sống xã hội và tâm hồn con người Việt Nam qua các thời kì.

Câu 3: Lập dàn ý và viết đoạn văn cho một trong hai đề bài

Em chọn Đề 2: “Biết trân trọng cái đẹp của người khác cũng là một cách làm đẹp chính mình”. Trình bày suy nghĩ của bạn về ý kiến này.

A. Dàn ý

a) Mở bài:

  • Dẫn dắt về vẻ đẹp trong cuộc sống và cách con người ứng xử với vẻ đẹp ấy.
  • Nêu ý kiến: “Biết trân trọng cái đẹp của người khác cũng là một cách làm đẹp chính mình”.

b) Thân bài:

– Giải thích:

  • “Cái đẹp của người khác”: tài năng, phẩm chất, thành công, vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn… của người xung quanh.
  • “Trân trọng cái đẹp”: biết công nhận, ngưỡng mộ, học hỏi, không đố kị hay ganh ghét.
  • “Làm đẹp chính mình”: hoàn thiện nhân cách, tâm hồn của bản thân. -> Ý kiến khẳng định: thái độ trân trọng cái đẹp của người khác chính là biểu hiện của một tâm hồn đẹp.

– Bàn luận:

Vì sao biết trân trọng cái đẹp của người khác lại là cách làm đẹp chính mình?

  • Trân trọng cái đẹp của người khác thể hiện tấm lòng rộng mở, hào hiệp – đó là phẩm chất đẹp của nhân cách.
  • Khi biết ngưỡng mộ, ta sẽ học hỏi, noi theo để hoàn thiện bản thân – từ đó thực sự trở nên tốt đẹp hơn.
  • Ngược lại, đố kị, ganh ghét làm tâm hồn con người trở nên nhỏ mọn, xấu xí – đánh mất cả vẻ đẹp vốn có.
  • Người biết trân trọng cái đẹp thường được người khác quý mến, tôn trọng – tạo nên mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội.

Dẫn chứng:

  • Trong đoạn trích Bước vào đời, Đào Duy Anh trân trọng, ngưỡng mộ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh – và chính sự trân trọng ấy đã thúc đẩy ông dấn thân vào con đường cách mạng, viết báo cống hiến cho đất nước – trở thành học giả lớn.
  • Nhiều tấm gương trong đời sống: các nhà khoa học, nghệ sĩ trẻ luôn ngưỡng mộ tiền bối để nỗ lực vươn lên.

– Mở rộng, phản đề:

  • Cần phân biệt trân trọng với tôn sùng mù quáng – trân trọng phải kèm theo tỉnh táo, chọn lọc.
  • Phê phán thái độ đố kị, ganh ghét, thấy người khác thành công thì tìm cách hạ bệ, dèm pha.

– Bài học:

  • Rèn luyện thái độ tích cực: biết vui với thành công của người khác, biết học hỏi từ họ.
  • Không ngừng hoàn thiện bản thân để bản thân cũng có “cái đẹp” đóng góp cho đời.

c) Kết bài:

  • Khẳng định lại giá trị của ý kiến.
  • Liên hệ bản thân.
B. Đoạn văn (chọn ý tâm đắc)

Đoạn văn về ý “Trân trọng cái đẹp của người khác thúc đẩy bản thân hoàn thiện”:

Trong nhiều lí do khiến việc “biết trân trọng cái đẹp của người khác cũng là cách làm đẹp chính mình” trở nên thuyết phục, em tâm đắc nhất với ý: trân trọng cái đẹp của người khác là động lực để bản thân vươn lên hoàn thiện. Khi ta thực sự ngưỡng mộ tài năng, phẩm chất của ai đó, ta không dừng lại ở việc ca ngợi mà còn muốn học hỏi, noi theo. Hình ảnh chàng thanh niên Đào Duy Anh trong Bước vào đời là minh chứng sống động: sự ngưỡng mộ dành cho Phan Bội Châu đã thắp sáng khát vọng trong ông, thôi thúc ông rời bỏ chốn an nhàn để dấn thân vào con đường cống hiến. Ngược lại, kẻ đố kị chỉ mãi giậm chân tại chỗ, tâm hồn ngày càng cằn cỗi, nhỏ nhen. Vì thế, học cách trân trọng cái đẹp không chỉ là bài học về cách sống với người khác, mà còn là bài học để mỗi chúng ta trở nên đẹp hơn trong mắt chính mình.

Câu 4: Bài thuyết trình mẫu về đề tài “Sống phải là toả sáng”

BÀI THUYẾT TRÌNH: SỐNG PHẢI LÀ TOẢ SÁNG

Kính thưa thầy cô và các bạn!

Có một câu nói mà em rất tâm đắc: “Bạn không sinh ra để trở nên bình thường.” Trong cuộc đời hữu hạn của mỗi người, có lẽ điều đáng buồn nhất không phải là thất bại, mà là sống mà không để lại dấu ấn gì. Chính vì vậy, hôm nay em xin trình bày suy nghĩ của mình về đề tài: Sống phải là toả sáng.

1. “Toả sáng” là gì?

“Toả sáng” không có nghĩa là phải trở thành người nổi tiếng, giàu có hay quyền lực. Toả sáng là khi ta sống hết mình với những giá trị đẹp, khi ta cống hiến những gì tốt nhất của bản thân cho cuộc đời, và khi ta lan toả những điều tích cực đến những người xung quanh.

2. Vì sao “sống phải là toả sáng”?

Thứ nhất, mỗi người sinh ra đều mang trong mình một khả năng riêng. Có người giỏi văn chương, có người giỏi khoa học, có người khéo tay, có người có trái tim nhân hậu. Nếu không phát huy khả năng ấy, chúng ta phí hoài món quà mà cuộc đời ban tặng.

Thứ hai, cuộc đời ngắn ngủi. Trong đoạn trích Bước vào đời, chàng thanh niên Đào Duy Anh đã sớm nhận ra: không thể chôn vùi tuổi thanh xuân trong sự an phận, tầm thường. Chính khát vọng ấy đã đưa ông trở thành học giả lớn của dân tộc.

Thứ ba, khi ta toả sáng, ta không chỉ làm đẹp cho mình mà còn truyền cảm hứng cho người khác. Ngọn nến nào cũng có thể thắp sáng cho ngọn nến khác – mà ánh sáng của nó không hề vơi đi.

3. Làm thế nào để “toả sáng”?

  • Học tập, rèn luyện không ngừng để trau dồi tri thức, kĩ năng.
  • Sống có lí tưởng, có hoài bão – biết mình muốn gì, cần gì và cống hiến ra sao.
  • Dám bước ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi ước mơ, như Đào Duy Anh đã dám rời Đồng Hới để đi Sài Gòn viết báo.
  • Sống tử tế với mọi người xung quanh – vì sự tử tế cũng chính là một cách toả sáng đầy giá trị.

4. Liên hệ tuổi trẻ hôm nay:

Trong thời đại hội nhập, tuổi trẻ chúng ta có nhiều cơ hội hơn bao giờ hết để toả sáng: có thể khởi nghiệp, có thể tham gia các hoạt động cộng đồng, có thể sáng tạo nghệ thuật, khoa học… Điều quan trọng là chọn cách toả sáng phù hợp với khả năng và giá trị của mỗi người.

Em xin kết thúc phần trình bày của mình bằng câu nói của Steve Jobs: “Your time is limited, so don’t waste it living someone else’s life”Thời gian của bạn có hạn, đừng lãng phí nó để sống cuộc đời của người khác. Hãy sống là chính mình, hãy sống hết mình, và hãy toả sáng theo cách riêng của bạn!

Xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện