Soạn bài: Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (Trích Số đỏ) – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

  • Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), quê ở tỉnh Hưng Yên nhưng sinh ra và sống chủ yếu ở Hà Nội.
  • Ông bước vào làng báo, làng văn từ rất sớm (bắt đầu có truyện đăng báo từ năm 1930), dùng ngòi bút để kiếm sống và chống chọi khó khăn với tình cảnh nghèo túng, bệnh tật triền miên.
  • Trong chưa đầy mười năm cầm bút, ông để lại khối lượng sáng tác lớn, nổi bật là phóng sựtiểu thuyết.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Cạm bẫy người (phóng sự, 1933), Kĩ nghệ lấy Tây (phóng sự, 1934), Cơm thầy cơm cô (phóng sự, 1936), Giông tố (tiểu thuyết, 1936), Số đỏ (tiểu thuyết, 1936), Vỡ đê (tiểu thuyết, 1936)…
  • Đặc điểm sáng tác:
    • Tác phẩm toát lên sự khinh bỉ sâu sắc cái xã hội đương thời – một xã hội mà ông nhìn nhận là đen tối, thối nát.
    • Cảm hứng vạch trần sự thật luôn chi phối ngòi bút.
    • Xây dựng được những hình tượng nhân vật sắc nét, vừa mang tính đặc thù của một thời đại cụ thể, vừa thể hiện rõ bản chất một số trạng huống tồn tại phổ quát.

2. Tác phẩm

a) Tiểu thuyết Số đỏ

  • Hoàn cảnh sáng tác: Số đỏ ra mắt lần đầu trên Hà Nội báo, in nhiều kì bắt đầu từ số 40 (07/10/1936). Đến năm 1938, tác phẩm được in thành sách tại Nhà in Lê Cường, Hà Nội.
  • Tác phẩm gồm 20 chương, là tác phẩm đỉnh cao trong văn nghiệp Vũ Trọng Phụng và có vị trí quan trọng trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
  • Thể loại: tiểu thuyết (hoạt kê).
  • Phương thức biểu đạt: tự sự.
  • Tóm tắt: Số đỏ xoay quanh nhân vật Xuân Tóc Đỏ – một đứa trẻ mồ côi, lêu lổng, từng làm đủ nghề “mạt hạng”. Nhờ sự nâng đỡ đầy toan tính của bà Phó Đoan, Xuân bước chân vào xã hội “thượng lưu”. Hắn được vợ chồng Văn Minh tôn lên làm “nhà cải cách xã hội”, “đốc tờ Xuân”, “giáo sư quần vợt”… Với sự láu lỉnh và bản chất cơ hội, Xuân được nhiều nhân vật khác sợ hãi, nể trọng. Vinh quang tột đỉnh của Xuân là khi để thua quán quân quần vợt người Xiêm trong trận đấu ngoại giao, được tung hô là “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”.

b) Đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc

  • Xuất xứ, vị trí: đoạn trích nửa đầu chương XXchương cuối cùng của Số đỏ.
  • Bố cục (3 phần):
    • Phần 1 (từ đầu đến “ra thử tài với Xuân Tóc Đỏ”): Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu thể thao đặc biệt.
    • Phần 2 (tiếp đến “các đức vua và quý quan của ba chính phủ về Sở Toàn quyền”): Diễn biến kịch tính của “ván quần” giữa Xuân Tóc Đỏ và quán quân Xiêm La.
    • Phần 3 (còn lại): Màn hùng biện của Xuân Tóc Đỏ và sự tung hô của dân chúng.

II. Trước khi đọc

Câu 1: Khi nói về loại nhân vật văn học có thể gây cho độc giả sự chú ý, tò mò ngay từ cái tên, bạn nghĩ tới những nhân vật nào? Nêu nhận xét về ý nghĩa của việc đặt tên cho các nhân vật trong sáng tác văn học.

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Một số nhân vật gây ấn tượng ngay từ cái tên: Chí Phèo, thị Nở, Xuân Tóc Đỏ, bá Kiến, Nghị Quế, cô Tuyết, ông TYPN, bà Phó Đoan… Việc đặt tên nhân vật là một thủ pháp nghệ thuật giàu ý nghĩa: cái tên có thể hé lộ tính cách, số phận, thân phận của nhân vật; gợi sự tò mò, hứng thú cho người đọc; thể hiện thái độ, dụng ý của tác giả (yêu thương, châm biếm, mỉa mai…).
  • Cách 2: Em nghĩ đến những nhân vật như Xuân Tóc Đỏ, Nghị Hách, bà Phó Đoan, ông TYPN… – những cái tên vừa lạ vừa hài hước. Đặt tên nhân vật trong văn học không chỉ để phân biệt mà còn để gửi gắm thông điệp nghệ thuật: cái tên có thể là biếm hoạ thu nhỏ về nhân vật, báo hiệu trước bản chất hoặc số phận của họ, làm cho hình tượng trở nên sống động, dễ nhớ.

Câu 2: Nêu những hiểu biết của bạn về tiếng cười trào phúng trong sáng tác văn học (đối tượng trào phúng, thủ pháp trào phúng, giọng điệu trào phúng…).

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Tiếng cười trào phúng là tiếng cười mang tính phê phán, châm biếm trong văn học.
    • Đối tượng trào phúng: những thói hư tật xấu, những hiện tượng lố lăng, giả dối, kệch cỡm trong xã hội và con người.
    • Thủ pháp trào phúng: phóng đại, cường điệu, nói mỉa, tương phản, dùng nghịch ngữ, tạo tình huống hài hước
    • Giọng điệu trào phúng: có thể hài hước nhẹ nhàng, có thể mỉa mai chua cay, có thể đả kích, châm biếm sâu sắc.
  • Cách 2: Tiếng cười trào phúng thường xuất hiện trong các sáng tác nhằm vạch trần, đả kích cái xấu xa, giả dối. Em từng bắt gặp tiếng cười ấy trong thơ Hồ Xuân Hương, trong thơ Tú Xương, trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan… Thủ pháp thường dùng là so sánh tương phản, nói ngược, chơi chữ, khoa trương. Giọng điệu có khi hóm hỉnh, có khi cay độc, tuỳ thái độ của tác giả với đối tượng.

III. Trong khi đọc

1. Chú ý cách giới thiệu về sự kiện qua những chi tiết cụ thể và các yếu tố hé lộ giọng điệu trần thuật chính

  • Chi tiết cụ thể: “giá vé vào cửa là ba đồng hạng bét”, “số công chúng… cũng trên ba nghìn”, “Sân quần Rollandes Varreau của Hà thành bữa ấy thật đã ghi được một chỗ rẽ ngoặt cho lịch sử thể thao”.
  • Yếu tố hé lộ giọng điệu: chi tiết “nhiều người hâm mộ vì đến chậm, không mua được vé, bèn hoá ra phẫn uất và chết một cách rất thể thao, nghĩa là tự tử dần dần bằng thuốc phiện không có giấm thanh, hút vào phổi”.

→ Cách giới thiệu phóng đại, khoa trương, kết hợp lối nói mỉa (chết vì thuốc phiện mà lại gọi là “chết một cách rất thể thao”) đã hé lộ giọng điệu trần thuật chính: mỉa mai, châm biếm, trào phúng.

2. Câu văn này có thể gợi lên ấn tượng gì về nhân vật Xuân Tóc Đỏ?

Câu văn “Tuyết cố làm cho ông bố đỡ buồn, kêu rằng cái phần danh dự của gia đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn hi vọng vào Xuân” gợi ấn tượng:

  • Xuân Tóc Đỏ là nhân vật được đặt vào vị trí quan trọng – cả gia đình cụ cố Hồng và những người trong hiệu Âu hoá đều đặt niềm tin, hi vọng vào hắn.
  • Xuân xuất hiện gián tiếp qua lời kể – chưa lộ diện mà đã tạo cảm giác đây là nhân vật có “tài năng”, có “uy tín”.
  • Tuy nhiên, đặt trong mạch giọng điệu trào phúng, câu văn cũng hé lộ sự nghịch lí: một kẻ vô học lại được kì vọng gánh vác “danh dự” cho cả gia đình và Tổ quốc.

3. Người kể chuyện đã miêu tả chân dung các nhân vật bằng giọng điệu như thế nào?

Người kể chuyện miêu tả bằng giọng điệu mỉa mai, châm biếm, khoa trương:

  • Vua Xiêm đội mũ “trông như một cái tháp cao, vì nó có đến chín tầng gác”, được gọi là “đấng thiếu quân của đất nước triệu tượng”.
  • Sự có mặt của viên quan hầu Đức và viên quan hầu Nhật được đùa là “tỏ rằng nước Xiêm đương tiến bộ mạnh mẽ trên đường tự lập”.
  • Các ông trị sự Tổng cục thể thao Bắc Kì “đương lo sốt vó, đương hoá điên hoá cuồng”.

→ Giọng điệu trịnh trọng giả tạo kết hợp lối phóng đại, tạo hiệu quả châm biếm, hài hước – làm bật lên sự lố bịch, kệch cỡm của các nhân vật.

4. Đoạn văn cho thấy điều gì về bản chất của cuộc bài binh bố trận được nhà nước thuộc địa triển khai trước một sự kiện chính trị quan trọng?

  • Nhà nước thuộc địa huy động cả bộ máy để chuẩn bị cho sự kiện: Toàn quyền, Thống sứ, Đức vua, vua Xiêm, quan hầu Đức, quan hầu Nhật… đều có mặt trên khán đài.
  • Sở Mật thám phái hết nhân viên đi “hộ giá ngoài phố”, đến mức không biết hai nhà quán quân Hải, Thụ đang bị giam ngay tại nhà tạm giữ của mình.
  • Tổng cục thể thao lúng túng, hoá điên hoá cuồng khi không tìm ra hai tay vợt chủ lực.

→ Bản chất cuộc bài binh bố trận: hình thức, phô trương nhưng rỗng tuếch, bất lực, nực cười – cả bộ máy đồ sộ nhưng không kiểm soát nổi một tình huống đơn giản. Đó là bức tranh châm biếm sâu cay về sự bất lực, giả tạo của chính quyền thực dân.

5. Lí do sự hài lòng của các đối tượng tham dự sự kiện đã được diễn tả như thế nào?

  • Công chúng Pháp – Nam hài lòng vì họ chưa được biết tài của quán quân Xiêm La, lại cho rằng Tổng cục không đề cử Hải, Thụ mà chỉ bắt Xuân“một cử động kiêu ngạo rất kín đáo” – như thể ngầm chê đối thủ Xiêm.
  • Văn Minh – ông bầu của Xuân – sung sướng vì “người của ông được đại diện cho Hà thành để giữ cái danh dự cho Tổ quốc, trước nhà vô địch Xiêm”.
  • Công chúng luôn luôn vỗ tay hoan hô Xuân.

→ Lí do hài lòng được diễn tả hài hước, châm biếm: mọi người đều hài lòng vì những lí do hão huyền, vô căn cứ, không ai biết Xuân thực chất là ai. Đây là biểu hiện của đám đông nông nổi, mù quáng.

6. Sự cường điệu trong cách miêu tả phản ứng của vua Xiêm mang lại hiệu quả nghệ thuật gì?

  • Vua Xiêm “đã lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo ở cái nước có hàng triệu con voi”.
  • Ngài lôi bản đồ Ấn Độ Chi Na ra ngắm nghía, không nhìn ra cuộc đấu nữa.
  • Hai viên quan hầu thì thào “La guerre! La guerre!” (Chiến tranh! Chiến tranh!).

Hiệu quả nghệ thuật:

  • Tạo tiếng cười châm biếm sâu cay: chỉ vì một quả bóng quần vợt mà cả vấn đề chiến tranh, biên giới quốc gia cũng được lôi ra.
  • Vạch trần sự lố bịch, phi lí của giới cầm quyền – biến một trận đấu thể thao thành cái cớ cho những toan tính chính trị hão huyền.
  • Cho thấy sự kệch cỡm của một xã hội mà cái nhỏ nhặt được thổi phồng thành đại sự quốc gia.

7. Các quan chức nhà nước có động thái gì nhằm cứu vãn tình hình? Các động thái đó có tính chất khôi hài như thế nào?

Các động thái:

  • Đức vua nước nhà, quan Toàn quyền, quan Thống sứ đưa mắt nhìn nhau.
  • Quan Toàn quyền ra hiệu lệnh; ông Giám đốc chính trị Đông Dương bỏ khán đài, chạy xuống sân tìm Văn Minh.
  • Vị thượng quan mời Văn Minh ra chỗ vắng, hấp tấp rỉ tai yêu cầu Xuân phải nhường, phải thua nhà vô địch Xiêm; hứa sẽ bù đắp hậu hĩ.

Tính chất khôi hài:

  • Đại sự quốc gia được quyết định bằng những cử chỉ thì thào, rỉ tai như một trò mua bán vụng trộm.
  • Danh dự thể thao bị đánh đổi lấy quyền lợi chính trị – một sự tráo trở, dối trá.
  • “Cứu quốc” hoá ra là đầu hàng, nhường thắng lợi cho đối thủ – một nghịch lí đầy châm biếm.

8. Nhịp điệu trần thuật ở đoạn này có điểm gì đáng chú ý?

  • Nhịp điệu dồn dập, nhanh, gấp gáp: các sự việc diễn ra đan xen, chồng chéo.
  • Nhiều tuyến hành động cùng lúc: công chúng reo hò, trọng tài hô điểm, ông bầu Văn Minh chạy đến rỉ tai Xuân.
  • Câu văn ngắn, gãy: “Thua đi! Nhường đi! Được thì chết! Chiến tranh!” – dồn dập, cấp bách.

→ Nhịp điệu ấy tạo kịch tính, mô phỏng không khí căng thẳng, hối hả của một cảnh hài kịch; đẩy sự việc đến cao trào và làm bật lên tính chất khôi hài, phi lí của toàn bộ tình huống.

9. Bạn có liên tưởng gì đến thực tế thường diễn ra sau một sự kiện thể thao hay văn hoá mà bạn được biết?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em liên tưởng đến những sự kiện thể thao lớn (World Cup, SEA Games…) mà em từng biết. Sau mỗi trận đấu, thường có những đám đông vây quanh cầu thủ, các nhà báo, phóng viên chụp ảnh, phỏng vấn; có những người ngợi ca, cũng có những người chỉ trích. Cảnh trong đoạn trích – công chúng đứng đông nghịt, “tốp này định chia buồn với Xuân, tốp kia định trách cứ Xuân”, các nhà chụp ảnh vây quanh – rất gần với thực tế đời sống.
  • Cách 2: Em liên tưởng đến những sự kiện thể thao mà đám đông thường phản ứng theo cảm tính: khi đội nhà thắng thì tung hô cầu thủ như anh hùng, khi thua thì trách cứ, chỉ trích ngay lập tức. Sự thay đổi thái độ đột ngột của đám đông trong đoạn trích (từ đả đảo Xuân sang tung hô “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế”) giống với tâm lí đám đông trong nhiều sự kiện thực tế: dễ bị dẫn dắt, thiếu tỉnh táo.

10. Cách xưng hô của nhân vật Xuân Tóc Đỏ có gì đáng chú ý?

  • Xuân xưng “ta” và gọi công chúng là “mi” – cách xưng hô trịch thượng, bề trên, kiểu vĩ nhân, thánh nhân.
  • Xuân còn gọi công chúng là “Quần chúng nông nổi ơi!”, “Hỡi công chúng!” – giọng kẻ cả, thuyết giáo.

→ Cách xưng hô ấy tạo hiệu quả châm biếm sâu cay: một kẻ vô học, xuất thân “mạt hạng” lại lên giọng dạy đời như một bậc anh hùng cứu quốc. Sự tương phản trớ trêu giữa thân phận thậtcách xưng hô cao đạo làm bật lên tính chất hài kịch của cả cảnh diễn thuyết.

11. Những ghi chú được đặt trong ngoặc đơn có ý nghĩa nghệ thuật như thế nào?

Các ghi chú trong ngoặc đơn: (nó vỗ vào ngực), (nó đấm tay xuống không khí), (nó giơ cao tay lên), (nó đập tay xuống)

Ý nghĩa nghệ thuật:

  • Gợi liên tưởng đến thể loại kịch (kịch bản sân khấu) – nơi có những chỉ dẫn sân khấu cho diễn viên.
  • Sân khấu hoá cảnh diễn thuyết: biến Xuân thành một diễn viên đang diễn trò trước công chúng.
  • Vạch trần bản chất giả tạo, kịch cỡm của bài hùng biện: những cử chỉ được tính toán, dàn dựng để gây ấn tượng, chứ không phải xuất phát từ cảm xúc chân thành.
  • Tạo hiệu quả châm biếm, hài hước: người đọc “nhìn thấy” Xuân đang múa may, làm trò như một anh hề trên sân khấu.

12. Có thể dùng những từ ngữ gì để khái quát về tính chất phản ứng của đám đông được thể hiện qua đoạn này?

  • Nông nổi, mù quáng: dễ bị lôi kéo, đổi thái độ chỉ trong chốc lát (từ đả đảo sang tung hô).
  • Cả tin, dễ bị lừa mị: tin ngay vào lời hùng biện sáo rỗng của Xuân.
  • A dua, hùa theo đám đông: reo hò, hoan hô mà không hiểu bản chất sự việc.
  • Bị “thôi miên”, “lên đồng”: cả một cộng đồng bị dắt mũi bởi một cá nhân bịp bợm.

→ Đó là bức tranh châm biếm về tâm lí đám đông trong xã hội đương thời – thiếu tỉnh táo, thiếu chính kiến.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Tóm tắt các sự việc chính được kể trong đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc bằng một sơ đồ phù hợp.

Sơ đồ tóm tắt các sự việc chính:

(1) Chuẩn bị cho trận đấu
    ↓ Sân quần đông trên 3.000 người; Cụ cố Hồng, Văn Minh, Phó Đoan,
      Tuyết chán nản vì bà Văn Minh thua; hi vọng đặt vào Xuân.
    ↓ Trên khán đài: Toàn quyền, Thống sứ, Đức vua nước nhà, vua Xiêm.
    ↓ Hai quán quân Hải, Thụ mất tích (thực chất bị giam ở Sở Mật thám).
    ↓ Tổng cục thể thao mời quán quân Xiêm La đấu với Xuân Tóc Đỏ.

(2) Diễn biến trận đấu
    ↓ Séc 1: Xuân thắng 6–1 → Đức vua, Toàn quyền, Thống sứ băn khoăn.
    ↓ Séc 2: Xuân đánh uể oải, thua 5–7 (để dành sức).
    ↓ Séc 3: Xuân chiếm ưu thế → Vua Xiêm nổi giận, doạ chiến tranh.
    ↓ Quan Toàn quyền ra lệnh; Giám đốc chính trị Đông Dương
      rỉ tai Văn Minh buộc Xuân phải thua.
    ↓ Văn Minh khẽ bảo Xuân: "Thua đi! Nhường đi! Chiến tranh!"
    ↓ Xuân lốp bóng ra ngoài → thua 7–9.

(3) Sau trận đấu
    ↓ Công chúng thất vọng, đả đảo Xuân, đòi giải thích.
    ↓ Xuân trèo lên nóc xe hơi, hùng biện trước đám đông.
    ↓ Đám đông từ phẫn nộ chuyển sang tung hô:
      "Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!"

Câu 2: Xác định ngôi kể, điểm nhìn đã được nhà văn lựa chọn và ý nghĩa của ngôi kể, điểm nhìn ấy trong việc làm sáng tỏ bản chất hiện thực theo khám phá và quan niệm của ông.

a) Ngôi kể, điểm nhìn:

  • Ngôi kể: ngôi thứ ba.
  • Điểm nhìn: chủ yếu là điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện, kết hợp dịch chuyển linh hoạt ở nhiều góc độ (bao quát, cụ thể, xa, gần).

b) Ý nghĩa:

  • Tạo điều kiện bao quát toàn cảnh sự việc, đẩy nhanh nhịp độ kể, làm nổi bật tính chất “hề” của toàn bộ những gì được kể.
  • Người kể dịch chuyển điểm nhìn: từ cảnh náo nhiệt trên sân vận động → cảnh rỉ tai ám muội giữa các “đấng” tai to mặt lớn → cảnh rừng người hò reo → cảnh đặc tả từng động tác tay chân của Xuân.
  • Vạch trần những mảng tối trong hiện thực, thể hiện sự khinh bỉ của tác giả với xã hội đương thời “đen tối, thối nát”.
  • Cho phép mô tả và đánh giá hiện thực từ nhiều góc, phê phán những vấn đề của thời buổi “cũ – mới tranh nhau”, “Á – Âu xáo trộn”.

Câu 3: Theo bạn, tình huống nào đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo nên kịch tính và bước ngoặt của toàn bộ sự kiện được kể trong đoạn trích? Hãy phân tích tính chất của tình huống đó.

a) Các tình huống trong đoạn trích:

  • Tình huống 1: Hai nhà quán quân cũ (Hải, Thụ) mất tích → Xuân được cơ hội ra sân tỉ thí với quán quân Xiêm La.
  • Tình huống 2: Xuân thắng điểm quán quân Xiêm La, vô tình đẩy hai nước Việt – Xiêm đến miệng hố chiến tranh.
  • Tình huống 3: Đám đông đả đảo Xuân, đòi giải thích → Xuân và Văn Minh phải biện xảo để xoay ngược tình thế.

b) Tình huống quan trọng nhất – Tình huống 2:

  • Đóng vai trò trung tâm trong việc tạo nên kịch tínhbước ngoặt của toàn bộ sự kiện.
  • Đây là cao trào: một trận đấu thể thao thông thường bỗng chuyển thành vấn đề ngoại giao, chính trị – có thể dẫn đến chiến tranh.
  • Tình huống phi lí, khôi hài: quyền lợi quốc gia lại được đánh đổi bằng một quả bóng quần vợt; những kẻ cầm quyền phải rỉ tai, van xin Xuân – một tên vô học – nhường phần thắng.
  • Từ tình huống này, “số đỏ” của Xuân được đẩy đến đỉnh điểm: từ kẻ thua cuộc thành “anh hùng cứu quốc”.
  • Phơi bày toàn bộ sự bịp bợm của xã hội đương thời: danh hiệu, vinh quang, “cứu quốc” đều là những màn kịch dối trá.

Câu 4: Phân tích nét đặc sắc của cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng. Những ghi chú (được đặt trong ngoặc đơn) của người kể chuyện gợi cho bạn liên tưởng đến thể loại văn học nào có đặc điểm hình thức tương tự?

a) Nét đặc sắc của cảnh hùng biện:

  • Nội dung bài hùng biện: Xuân đưa ra những lí lẽ cao siêu, sáo rỗng – “hi sinh danh vọng cá nhân”, “phụng sự công cuộc ngoại giao”, “tránh cho nhân loại nạn can qua”, “hoà bình vạn tuế”… Thực chất chỉ là những khẩu hiệu vô nghĩa được lặp lại như học thuộc lòng từ Văn Minh.
  • Ngôn từ: đầy những từ ngữ đại ngôn (“cực kì to tát”, “lòng hi sinh cao thượng vô cùng”, “xả thân cứu nước”, “phụng sự”, “quốc dân”…) – kệch cỡm, không tương xứng với thân phận Xuân.
  • Giọng điệu: trịch thượng, bề trên, xưng “ta” – gọi công chúng là “mi”.
  • Hành động phụ hoạ: (vỗ vào ngực), (đấm tay xuống không khí), (giơ cao tay lên), (đập tay xuống) – như diễn viên trên sân khấu.
  • Kết quả bất ngờ: đám đông từ đả đảo chuyển sang tung hô cuồng nhiệt, hô vang “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế!”.

→ Cảnh hùng biện có dáng dấp của một màn hài kịch, thể hiện rõ cảm quan của Vũ Trọng Phụng: xã hội đương thời là một tấn trò não nuột, nơi kẻ vô học lại được tung hô như vĩ nhân.

b) Liên tưởng đến thể loại văn học:

Những ghi chú trong ngoặc đơn gợi liên tưởng đến thể loại kịch (kịch bản sân khấu) – nơi có chỉ dẫn sân khấu cho diễn viên về cử chỉ, hành động, biểu cảm. Cách viết này giúp sân khấu hoá cảnh hùng biện, biến Xuân thành một diễn viên hài đang diễn trò trước khán giả.

Câu 5: Nêu nhận xét khái quát về sự tương đồng và khác biệt giữa ngôn ngữ của người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật ở đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.

a) Sự tương đồng:

  • Cả ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều thể hiện rõ sắc thái mỉa mai, trào phúng.
  • Ở lời nhân vật, sự mỉa mai không mang tính chủ động (nhân vật không cố ý mỉa mai) nhưng do được đặt trong bối cảnh “hề”, ngay cả những lời hoảng hốt (Văn Minh) hay lâm li, phấn khích (Xuân) đều bộc lộ tính chất mỉa mai, hoà điệu với giọng mỉa mai của người kể chuyện.

b) Sự khác biệt:

Ngôn ngữ người kể chuyện Ngôn ngữ nhân vật
lời người kể chuyện lời nhân vật
Thực hiện chức năng thuật kể, miêu tả, giới thiệu nhân vật, sự việc Phát ra trong hoàn cảnh, tình huống giao tiếp cụ thể
Thể hiện góc nhìn và quan điểm đánh giá riêng của người kể Bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật

Câu 6: Tìm những câu văn có sử dụng biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ trong văn bản.

a) Câu văn sử dụng nói mỉa:

  • “Nhiều người hâm mộ vì đến chậm, không mua được vé, bèn hoá ra phẫn uất và chết một cách rất thể thao, nghĩa là tự tử dần dần bằng thuốc phiện không có giấm thanh, hút vào phổi.” → gọi cái chết vì thuốc phiện là “chết một cách rất thể thao”.
  • “Viên quan hầu Đức và một viên quan hầu Nhật tỏ rằng nước Xiêm đương tiến bộ mạnh mẽ trên đường tự lập.” → nước phụ thuộc mà bảo là “tự lập”.
  • “Sự Tổng cục không đề cử Hải và Thụ mà chỉ bắt Xuân… thì đó chính là một cử động kiêu ngạo rất kín đáo vậy.”
  • “Với cái hùng biện của một người đã thổi loa cho những hiệu thuốc lậu, với cái tự nhiên của một anh lính cờ chạy hiệu rạp hát… Xuân Tóc Đỏ đã chinh phục quần chúng như một nhà chính trị đại tài của Tây phương.”

b) Câu văn sử dụng nghịch ngữ:

  • “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!” – “đại bại” mà lại “vạn tuế”.
  • “Ta không dám tự phụ là bậc anh hùng cứu quốc, nhưng ta phải tránh cho mi nạn chiến tranh rồi!” – vừa khiêm nhường giả tạo vừa tự đề cao.
  • “Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người…” – “vĩ nhân” mà lại “nhũn nhặn”, giơ quả đấm để “chào loài người”.
  • “Cái phần danh dự của gia đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn hi vọng vào Xuân” – đặt “danh dự” của gia đình vào một kẻ như Xuân là một nghịch lí.

Câu 7: Đoạn trích đã cho thấy điều gì về phong cách hiện thực của nhà tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng? Nêu một số thủ pháp được nhà văn sử dụng để tăng cường khả năng bao quát hiện thực cho các trang viết của mình.

a) Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích:

  • Ý thức phơi bày những mặt trái, mặt nhố nhăng của hiện thực luôn thường trực. Trong con mắt ông, xã hội đương thời đầy rẫy những biểu hiện tha hoá, suy đồi, dường như vô phương cứu chữa.
  • Sắc sảo trong việc xây dựng những chân dung biếm hoạ, luôn tìm thấy những chi tiết độc đáo có thể lột trần chân tướng của sự vật, hiện tượng và con người thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.
  • Thể hiện khả năng tưởng tượng, hư cấu đặc biệt: dựng lên những tình huống phi lí, những mẫu nhân vật quái dị với hành động và ngôn ngữ khác thường. Tuy nhiên, mọi sự tưởng tượng, hư cấu đều dựa trên nền tảng hiện thực.

b) Một số thủ pháp tăng cường khả năng bao quát hiện thực:

  • Hư cấu nên các tình huống – sự kiện có sự góp mặt của đủ hạng người trong xã hội (từ quan Toàn quyền, vua Xiêm đến kẻ nhặt bóng, đám đông vô danh).
  • Sử dụng bối cảnh lịch sử và xã hội thực tế (chính quyền thuộc địa, quan hệ ngoại giao, phong trào thể thao…).
  • Ngôn từ sắc bén, mô tả tinh tế, thể hiện sự nhạy bén qua các biện pháp nói mỉa, nghịch ngữ, ẩn dụ
  • Giọng văn đanh thép, mỉa mai để tố cáo sự thối nát.
  • Sử dụng kiểu liên hệ so sánh đầy tính bất ngờ, nhắm tới nhiều đối tượng cùng lúc (ví dụ so sánh Xuân với “nhà chính trị đại tài của Tây phương”).

Câu 8: Bạn suy nghĩ gì về trạng thái bị thôi miên và lên đồng của một xã hội, như thực tế được miêu tả trong đoạn trích?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Trạng thái bị thôi miên và lên đồng của xã hội trong đoạn trích là một hiện tượng đáng báo động. Cả một đám đông hàng nghìn người thay đổi thái độ chỉ trong chốc lát – từ đả đảo sang tung hô – chỉ vì một bài diễn thuyết sáo rỗng. Điều đó cho thấy khi thiếu chính kiến, thiếu tinh thần phản biện, con người rất dễ bị dắt mũi bởi những kẻ cơ hội, giả dối. Vũ Trọng Phụng đã cảnh tỉnh người đọc về nguy cơ ấy: một xã hội mê muội sẽ tạo cơ hội cho những “Xuân Tóc Đỏ” leo lên đỉnh cao vinh quang.
  • Cách 2: Em cho rằng trạng thái ấy phản ánh bi kịch của một xã hội mất phương hướng. Đám đông trong đoạn trích không có tiêu chuẩn để đánh giá đúng – sai, thật – giả; họ hùa theo cảm xúc nhất thời, để bị cuốn vào những trò lố. Đây không chỉ là chuyện của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX mà còn là hiện tượng phổ quát – ngay trong đời sống hôm nay, nhiều khi ta vẫn thấy đám đông bị dẫn dắt bởi tin giả, bởi những lời hứa hẹn suông. Vì thế, mỗi cá nhân cần rèn luyện tư duy độc lập, tỉnh táo trước những “màn thôi miên” của thời đại.
  • Cách 3: Trạng thái “thôi miên, lên đồng” ấy vừa buồn cười vừa đáng thương. Buồn cười vì cả một cộng đồng bị lừa bởi những lời sáo rỗng, kịch cỡm. Đáng thương vì họ là nạn nhân của một xã hội loạn chuẩn, nơi giá trị thật – giả bị đảo lộn. Từ đoạn trích, em rút ra bài học: cần giữ vững nhân cách, có thái độ ứng xử chuẩn mực, không a dua theo đám đông, biết trân trọng những giá trị đích thực trong đời sống.

V. Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu ấn tượng của bạn về khả năng của tiểu thuyết trong việc diễn tả bức tranh đời sống, thời đại qua đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.

Đoạn văn tham khảo 1 – Tiểu thuyết – tấm gương phản chiếu bức tranh thời đại:

Đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc của Vũ Trọng Phụng để lại trong em ấn tượng sâu sắc về khả năng bao quát hiện thực rộng lớn của tiểu thuyết. Chỉ trong một cảnh – trận đấu quần vợt giữa Xuân Tóc Đỏ và quán quân Xiêm La – nhà văn đã thu vào ống kính biết bao gương mặt của xã hội thuộc địa: từ Toàn quyền, Thống sứ, Đức vua, vua Xiêm đến đám đông ba nghìn khán giả nông nổi. Tiểu thuyết đã phơi bày sự bịp bợm, lố lăng của cả một xã hội “chó đểu” đầu thế kỉ XX: nơi những kẻ vô học lại được tung hô là “anh hùng cứu quốc”, nơi danh dự quốc gia bị đem ra mặc cả bằng một quả bóng. Chính khả năng dung chứa nhiều tuyến nhân vật, nhiều sự kiện chồng chéo và cái nhìn sắc sảo của nhà văn đã giúp tiểu thuyết trở thành tấm gương phản chiếu chân thực nhất bức tranh đời sống, thời đại.

Đoạn văn tham khảo 2 – Sức mạnh vạch trần hiện thực của tiểu thuyết:

Đọc Xuân Tóc Đỏ cứu quốc của Vũ Trọng Phụng, em thực sự bất ngờ trước sức mạnh vạch trần hiện thực của thể loại tiểu thuyết. Ở đoạn trích ngắn này, nhà văn không chỉ kể một câu chuyện mà còn dựng lên cả một xã hội thu nhỏ: có quan chức thực dân, có vua chúa, có tầng lớp thượng lưu, có đám đông nông nổi… Tất cả đan xen, chồng chéo trong một trận đấu quần vợt tưởng như đơn thuần thể thao nhưng lại ẩn chứa cả bi kịch của thời đại. Bằng ngòi bút trào phúng sắc sảo, các biện pháp nói mỉa, nghịch ngữ, cùng cách sân khấu hoá cảnh Xuân hùng biện, Vũ Trọng Phụng đã lật tẩy bản chất giả dối, kệch cỡm của xã hội đương thời. Qua đó, em nhận ra tiểu thuyết có một khả năng lớn lao: vừa phản ánh rộng bức tranh thời đại, vừa đi sâu vào bản chất con người, khiến người đọc nhiều thế hệ vẫn phải suy ngẫm.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện