Câu 1: Ý nghĩa biểu tượng của “bến trần gian”
a) Bến trần gian – không gian đặc biệt, mang tính ranh giới:
- Bến là nơi gặp gỡ, chia ly, là ranh giới giữa hai thế giới: cõi sống và cõi âm, hiện tại và vĩnh hằng.
- Trong truyện, bến sông (nơi có cây si cổ thụ, miếu thờ, tiếng ma gọi đò) mang đậm màu sắc huyền ảo, linh thiêng – là cửa ngõ để hồn Lăng trở về gặp mẹ, gặp Thuỳ.
b) Bến trần gian – biểu tượng của sự chia ly và mất mát do chiến tranh:
- Là nơi ghi dấu những hi sinh thầm lặng của người lính (Lăng đã ngã xuống mấy chục năm trước).
- Là nỗi đau chia lìa giữa mẹ – con (bà cụ Lăng), giữa lứa đôi (Thuỳ – Lăng).
- Gợi nhắc hậu quả dai dẳng của chiến tranh với cuộc đời những người ở lại.
c) Bến trần gian – biểu tượng của tình cảm bất tử:
- Dù âm dương cách biệt, tình mẹ con, tình yêu vẫn bền chặt vượt qua ranh giới sinh tử.
- Bến là nơi Lăng vẫn tìm về với mẹ; nơi Thuỳ đêm đêm khóc thầm vì nhớ người yêu cũ; nơi bà cụ thấu hiểu, bao dung với cả người sống lẫn người chết.
d) Bến trần gian – biểu tượng của kiếp nhân sinh:
- Bến là ẩn dụ cho cuộc đời với muôn nỗi vui – buồn, sướng – khổ, ràng buộc – chia ly.
- Con người ai cũng phải “qua bến” – phải chấp nhận sinh – tử như một quy luật; nhưng chính tình thương giúp níu giữ ý nghĩa của kiếp người.
Câu 2: Suy tư của tác giả về đời sống tâm linh của con người từng trải qua nhiều mất mát vì chiến tranh
a) Nỗi đau và ám ảnh chiến tranh:
- Chiến tranh để lại những vết thương lòng không bao giờ lành – Lăng hi sinh mấy chục năm, hồn vẫn luẩn quẩn trong rừng, khao khát trở về.
- Bà cụ Lăng suốt đời nhớ thương con; Thuỳ – dù đã lập gia đình, sinh 5 con – vẫn lén khóc bên bờ sông vì nhớ Lăng.
- Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng người lính mà còn đè nặng lên cả những người ở lại.
b) Niềm tin vào thế giới tâm linh:
- Tác giả thể hiện niềm tin vào sự tồn tại của thế giới bên kia – nơi hồn người chết vẫn có ý thức, có nỗi nhớ.
- Chi tiết giỗ chạp, thắp hương cho người khuất là biểu hiện của văn hoá tâm linh người Việt: người chết không hoàn toàn mất đi, họ vẫn hiện diện trong đời sống tinh thần của người thân.
c) Sự thấu hiểu, bao dung giữa cõi âm và cõi dương:
- Bà cụ Lăng vừa thương con vừa hiểu rằng con phải quay về xứ ma, không được luẩn quẩn nơi trần gian để làm hại người sống.
- Lăng cũng chấp nhận không gặp Thuỳ – vì Thuỳ đã có gia đình riêng.
- Đây là cách ứng xử rất người, rất nhân văn – vừa giữ tình cảm vừa tôn trọng cuộc sống hiện tại của người thân.
d) Chiêm nghiệm về kiếp nhân sinh:
- Tác giả gửi gắm suy nghĩ: cuộc sống hữu hạn, con người phải trân trọng hiện tại, sống có nghĩa với người đang sống và không quên người đã khuất.
- Qua bà cụ Lăng và Thuỳ, ta thấy con người sau chiến tranh âm thầm chịu đựng, âm thầm yêu thương, sống với cả quá khứ và hiện tại.
Câu 3: Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn và tác dụng của việc sử dụng yếu tố này
a) Các yếu tố kì ảo trong truyện:
- Hồn Lăng trở về sau mấy chục năm hi sinh, có thể nhìn thấy, gọi tên, đối thoại với mẹ và Thuỳ.
- Ông già râu tóc bạc phơ hiện ra trong rừng, cho Lăng chiếc lá thần kì gài vào vành tai để linh hồn không tan và có thể bay được về nơi đã ra đi.
- Tiếng ma gọi đò trong đêm – lời khẩn cầu “có sức hút huyền bí đến lạ lùng” – kéo Thuỳ ra bến chèo đò trong vô thức.
- Cảnh Thuỳ chèo đò như bị dẫn dắt bởi “xoáy nước của định mệnh”; con thuyền trôi thẳng băng như theo con đường định sẵn.
- Tay Lăng lạnh buốt khi mẹ chạm vào – Lăng chợt nhớ ra mình đã chết.
- Chiếc lá màu xám xuất hiện trong khung ảnh Lăng ở bàn thờ vào sáng hôm sau – dấu tích của cuộc “trở về”.
b) Tác dụng của yếu tố kì ảo:
- Tạo sức hấp dẫn, li kì: khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc, đưa họ vào một thế giới huyền ảo đầy chất thơ.
- Thể hiện quan niệm tâm linh: về sự tồn tại của thế giới bên kia, về sự bất tử của tình cảm gia đình, tình yêu.
- Khắc hoạ sâu sắc nỗi đau chiến tranh: yếu tố kì ảo (hồn Lăng lang thang mấy chục năm, khát khao trở về) làm nổi bật hậu quả dai dẳng của chiến tranh với những người đã khuất và người ở lại.
- Bộc lộ nội tâm nhân vật: qua các chi tiết kì ảo, người đọc cảm nhận được tình mẹ con, tình yêu thuỷ chung, nỗi day dứt của các nhân vật một cách sâu sắc.
- Truyền tải thông điệp nhân văn: ca ngợi tình cảm bất tử của con người, thể hiện khát vọng hoà bình, đề cao lòng bao dung, thấu hiểu giữa người sống và người chết.
- Thể hiện phong cách trần thuật độc đáo: cho thấy yếu tố kì ảo trong truyện hiện đại thường mờ nhoè giữa thực và ảo, mang tính gợi mở, biểu tượng – khác với truyện truyền kì trung đại (như Đền thiêng cửa bể) dùng kì ảo trực tiếp và tường minh.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
