Soạn bài: Thực hành đọc: Cảm hứng và sáng tạo (Nguyễn Trần Bạt) – Ngữ văn 12

Câu 1: Vấn đề cảm hứng và vai trò của cảm hứng được bàn luận trong văn bản; tầm quan trọng của vấn đề đó đối với đời sống của cá nhân và cộng đồng

a) Vấn đề được bàn luận:

  • Văn bản bàn về cảm hứng và sáng tạo, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cảm hứng đối với sáng tạosự phát triển của cá nhân, cộng đồng.
  • Tác giả khẳng định: “cảm hứng và sáng tạo luôn đi liền với nhau, gắn kết với nhau bởi xúc tác là tự do”.

b) Vai trò của cảm hứng:

  • Là động lực phát triển: cảm hứng giúp con người có khát vọng đi tìm cái mới, thúc đẩy sự phát triển các giá trị tinh thần.
  • Là chất men nuôi dưỡng năng lực tưởng tượng, làm bùng nổ năng lực sáng tạo.
  • Có thể có tác động hai mặt: xúc tiến khả năng phát triển nếu được cân bằng; xúc tiến khả năng phá hoại nếu mất cân bằng.

c) Tầm quan trọng đối với cá nhân:

  • Không có cảm hứng, con người trở nên “khô khốc trong sự tỉnh táo”, lười biếng, mất đi động lực sống.
  • Cảm hứng giúp con người yêu mến cuộc sống, tự nguyện lao động, có đam mê sáng tạo.
  • Cảm hứng giúp con người trở nên có ích trong nhiều nền văn hoá khác nhau.

d) Tầm quan trọng đối với cộng đồng:

  • “Một dân tộc không có cảm hứng thì sẽ luôn luôn lười biếng và không còn khát vọng… do đó, không thể phát triển được”.
  • Cảm hứng lan toả qua văn hoá, giúp con người hiểu nhau dễ hơn, thúc đẩy sự phát triển giữa các quốc gia.
  • Nếu cảm hứng bị dồn nén trong một xã hội, sẽ dẫn đến chủ nghĩa hoài cổ, chậm phát triển.

-> Cảm hứng là nhân tố sống còn đối với sự phát triển của cả cá nhân và cộng đồng – vừa là động lực bên trong vừa là sợi dây kết nối con người với nhau.

Câu 2: Cách diễn giải về cảm hứng; vai trò của cảm hứng trong sáng tạo; phạm vi ảnh hưởng của cảm hứng đối với cá nhân, cộng đồng; mối quan hệ giữa cảm hứng và trí tuệ, giữa cảm hứng và tự do

a) Cách diễn giải về cảm hứng:

  • Cảm hứng là “một trạng thái tinh thần được phát tán, lan truyền, ảnh hưởng rất nhanh và hiệu quả thông qua văn hoá”.
  • Cảm hứng thường được biểu hiện dưới hình thức của văn hoá – vì vậy có sức lan toả mạnh mẽ.

b) Vai trò của cảm hứng trong sáng tạo:

  • Cảm hứng chính là chất men nuôi dưỡng năng lực tưởng tượng – mà con người sáng tạo thông qua năng lực tưởng tượng.
  • thế giới tưởng tượng tràn ngập, con người mới có đam mê sáng tạo.
  • Chính cảm hứng và năng lực tưởng tượng phong phú làm nên sự đa dạng các giá trị tinh thần – nơi con người có thể tìm thấy sáng tạo “ở trong bất kì góc tối nào của cuộc sống”.
  • Dẫn chứng: Mi-ken-lăng-giơ nằm ngửa trên quang treo mấy năm ròng vẽ bức Sáng tạo thế giới – chính nhờ cảm hứng và sự thăng hoa của trí tưởng tượng.

c) Phạm vi ảnh hưởng của cảm hứng:

  • Đối với cá nhân: là động lực để lao động, sáng tạo, sống có ý nghĩa; giúp con người tham gia có ích vào nhiều cộng đồng khác nhau.
  • Đối với cộng đồng, dân tộc: là nhân tố phát triển; giúp giao lưu văn hoá, thúc đẩy sự phát triển giữa các quốc gia.

d) Mối quan hệ giữa cảm hứng và trí tuệ:

  • “Chỉ có trí tuệ mới có thể cân bằng được cảm hứng”.
  • Con người phải biết tự cân bằng cảm hứng bằng trí tuệ của mình:
    • Không để cảm hứng được thể hiện tuỳ tiện, mù quáng (dẫn đến phá hoại).
    • Không để cảm hứng bị tiêu diệt (dẫn đến khô khốc, mất động lực).
  • Cân bằng cảm hứng và trí tuệ là điều kiện để cảm hứng phát huy tác dụng tích cực.

e) Mối quan hệ giữa cảm hứng và tự do:

  • Tự do là chất xúc tác cho mọi sáng tạo – “con người không thể sáng tạo được nếu không có tự do”.
  • Tự do tạo ra cảm hứng làm chất men nuôi dưỡng năng lực tưởng tượng.
  • Tự do khuyến khích phát triển năng lực tưởng tượng và làm bùng nổ năng lực sáng tạo.
  • Cần xây dựng chế độ dân chủ để tự do trở thành cảm hứng cơ bản khích lệ mỗi con người.

-> Ba yếu tố cảm hứng – trí tuệ – tự do có mối quan hệ hữu cơ, không tách rời: tự do sinh ra cảm hứng, cảm hứng nuôi dưỡng sáng tạo, trí tuệ giữ cho cảm hứng đi đúng hướng.

Câu 3: Quan điểm, thái độ của tác giả khi bàn về vấn đề cảm hứng trong hoạt động sáng tạo của con người

a) Quan điểm của tác giả:

  • Đề cao vai trò của cảm hứng trong đời sống cá nhân và cộng đồng – coi cảm hứng là nhân tố sống còn cho sự phát triển.
  • Nhìn nhận cảm hứng ở cả hai mặt: vừa là động lực phát triển, vừa có thể trở thành nhân tố phá hoại nếu mất cân bằng.
  • Đề cao sự cân bằng giữa cảm hứng và trí tuệ – đây là điều kiện để cảm hứng phát huy tác dụng tích cực.
  • Khẳng định vai trò của tự do: tự do là chất xúc tác không thể thiếu cho sáng tạo; cần xây dựng chế độ dân chủ để giải phóng cảm hứng cho mỗi người.
  • Đề cao giá trị cá nhân và cái đẹp – coi “sáng tạo chính là cái đẹp”, “con người là hiện thân cao nhất của cái đẹp”.
  • Cảnh báo về hiện tượng “diệt chủng về mặt tinh thần” – việc tiêu diệt khả năng sáng tạo, làm con người trở nên đơn điệu, méo mó – còn nguy hiểm hơn cả diệt chủng sinh học.

b) Thái độ của tác giả:

  • Nghiêm túc, tâm huyết: bàn về vấn đề với chiều sâu suy tư, thể hiện trách nhiệm của một nhà nghiên cứu xã hội trước những vấn đề lớn của con người và thời đại.
  • Tin tưởng vào con người: tin vào năng lực sáng tạo tiềm tàng của mỗi cá nhân nếu được sống trong môi trường tự do, được nuôi dưỡng bằng cảm hứng.
  • Trăn trở, thẳng thắn: dám chỉ ra những nguy cơ của các xã hội dồn nén cảm hứng, những hệ luỵ của việc tiêu diệt sự đa dạng tinh thần.
  • Nhân văn, tiến bộ: đặt giá trị cá nhân con người ở vị trí trung tâm, coi việc tôn trọng cá nhân là tôn trọng cuộc đời.

-> Qua văn bản, tác giả không chỉ bàn luận về một khái niệm mà còn thể hiện một triết lí sống – đề cao tự do, cảm hứng, sáng tạo và cái đẹp như những giá trị cốt lõi làm nên phẩm giá và tương lai của con người.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện