Soạn bài: Mấy ý nghĩ về thơ (Nguyễn Đình Thi) – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

  • Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003), quê ở thành phố Hà Nội.
  • nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học – có nhiều đóng góp quan trọng cho việc xây dựng nền văn học cách mạng Việt Nam.
  • Sáng tác đa dạng về thể loại, nhưng nổi bật nhất là thơ, với những cách tân đáng kể trên phương diện hình thức.
  • Tác phẩm chính: Xung kích (tiểu thuyết, 1951), Người chiến sĩ (thơ, 1956), Mấy vấn đề văn học (tiểu luận, phê bình, 1956), Vỡ bờ (tiểu thuyết), Dòng sông trong xanh (thơ, 1974)…

2. Tác phẩm

  • Hoàn cảnh sáng tác: viết năm 1949, được đọc tại Hội nghị tranh luận văn nghệchiến khu Việt Bắc.
  • Xuất xứ: in trong tập Mấy vấn đề văn học.
  • Thể loại: tiểu luận (nghị luận văn học).
  • Bố cục (3 phần):
    • Phần 1 (từ đầu đến “nhưng lại không phải là thơ”): Bình luận một số quan niệm về thơ.
    • Phần 2 (tiếp đến “nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích”): Lí giải của tác giả về bản chất của thơ.
    • Phần 3 (còn lại): Quan niệm của tác giả về vấn đề vần và thơ tự do.

-> Các phần có quan hệ chặt chẽ: bình luận quan niệm cũ (P1) là cơ sở để tác giả đưa ra ý kiến về bản chất thơ (P2); rồi được bổ sung bằng bàn luận về hình thức thơ (P3).

II. Trước khi đọc

Câu 1: Trong các bài nghiên cứu, phê bình về thơ bạn đã đọc, bạn thích nhất bài nào? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em thích nhất bài “Một thời đại trong thi ca” của Hoài Thanh (trong Thi nhân Việt Nam). Bài viết đã khái quát được tinh thần thơ Mới một cách sâu sắc, với giọng văn tinh tế, giàu cảm xúcnhiều so sánh, liên tưởng độc đáo. Đọc bài viết, em cảm nhận được tình yêu tha thiết của Hoài Thanh với thơ ca dân tộc.
  • Cách 2: Em thích bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” của Phạm Văn Đồng. Bài viết mang cách nhìn mới mẻ, công bằng về Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời thể hiện tình cảm trân trọng đối với một nhà thơ yêu nước – một tấm gương lớn của văn học Việt Nam.

III. Trong khi đọc

1. Chú ý một số quan niệm về thơ được tác giả nêu lên và nhận xét

Tác giả nêu và bác bỏ hai quan niệm phổ biến về thơ:

  • Quan niệm 1: “thơ là những lời đẹp” → Bác bỏ bằng dẫn chứng: Hồ Xuân Hương dùng những chữ nôm na mách qué cũng thành thơ; Nguyễn Du viết “Thoắt trông lờn lợt màu da / Ăn chi to béo đẫy đà làm sao!”.
  • Quan niệm 2: thơ phải nói về đề tài “đẹp” (phong hoa tuyết nguyệt, nhớ mong sầu luỵ) → Bác bỏ: Bô-đơ-le viết về cái xác chó chết đầy giòi bọ; thời nay, cái xe đạp, khẩu ba dô ca, ba lô người chiến sĩ, dây thép gai đều có thể vào thơ.

Tác giả cũng nêu nhận xét của một nhà phê bình rằng “thơ khác văn xuôi ở chỗ thơ in sâu vào trí nhớ” – nhưng vẫn chưa cắt nghĩa được vì sao thơ có hiệu quả ấy.

-> Cách nêu và bác bỏ quan niệm cũ là cơ sở để tác giả đưa ra quan niệm riêng.

2. Câu hỏi tu từ được dùng nhằm mục đích gì?

  • Câu hỏi: “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?”
  • Mục đích:
    • Gợi mở hướng đi mới cho việc tìm hiểu bản chất thơ.
    • Dẫn dắt người đọc cùng suy ngẫm, thay vì áp đặt.
    • Thể hiện thái độ khiêm nhường, cầu thị của tác giả.
    • Chuyển ý mềm mại từ phần bác bỏ quan niệm cũ sang phần trình bày quan niệm riêng.

3. Chỉ ra các ý được triển khai ở phần 3

Phần 3 (bàn về bản chất thơ qua nội dung, cảm xúc, tư tưởng, hình ảnh) triển khai các ý:

  • Thơ là tiếng nói đầu tiên của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống – trước hết là những cảm xúc.
  • Thơ phải có tư tưởng, nhưng tư tưởng trong thơ không phải là tư tưởng thuần lí mà là tư tưởng dính liền với cuộc sống, nằm ngay trong cảm xúc, tình tự.
  • Thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý – nói bằng ý niệm là triết học, luận lí, không phải thơ.
  • Thơ muốn lay động chiều sâu tâm hồn, đem cảm xúc đi thẳng vào sự suy nghĩ.
  • Người làm thơ phải thấy được những hình ảnh trong ý nghĩ, tình cảm của mình; hình ảnh ấy phải mới mẻ, tươi nguyên như của người “nhìn bằng con mắt của người đầu tiên”.

4. Người viết chuyển sang bàn luận về khía cạnh nào của thơ?

  • Tác giả chuyển sang bàn về chữ và tiếng trong thơ – tức là ngôn ngữ thơnhịp điệu, nhạc điệu.
  • Các ý chính:
    • Chữ và tiếng trong thơ có giá trị vượt ra ngoài ý niệmgọi ra những cảm xúc, hình ảnh không ngờ.
    • Sức mạnh của câu thơ ở “sức gọi” ấy.
    • “Thi tại ngôn ngoại” (ý thơ ở ngoài lời).
    • Thơ có nhịp điệu bên trong – nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, tâm hồn.
    • Thơ đi thẳng vào tình cảm, không quanh co; là sự tổng hợp, kết tinh, đòi hỏi toàn bích.

5. Tác giả quan niệm như thế nào về vần và các khía cạnh hình thức khác trong thơ?

  • Tác giả cho rằng luật lệ, âm điệu, vần đều là “những võ khí rất mạnh” trong tay người làm thơ. Nhưng thiếu chúng không có nghĩa là trận đánh nhất định thua.
  • Không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần hay thơ không vầnchỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ.
  • Không nên lo thơ đi vào hình thức nào – trước hết cần thơ nói lên được tình cảm, tư tưởng mới của thời đại.
  • Vượt khỏi luật lệ không có nghĩa là buông thả, bừa bãi. Nghệ thuật có kỉ luật sắt – nhưng đó phải là sự tự kiểm soát, tự chủ từ bên trong.

-> Quan niệm cởi mở, linh hoạt, nhấn mạnh nội dung hơn hình thức; đề cao sự sáng tạo tự do trong khuôn khổ kỉ luật nội tại của nghệ thuật.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Tóm lược nội dung từng phần của văn bản (theo số thứ tự) và nêu mối quan hệ giữa các phần.

a) Tóm lược nội dung từng phần:

  • Phần 1: Bình luận, bác bỏ một số quan niệm cũ về thơ (thơ là lời đẹp, thơ ở đề tài đẹp, thơ khác văn xuôi ở chỗ in sâu vào trí nhớ).
  • Phần 2: Lí giải bản chất của thơ – thơ bắt nguồn từ tâm hồn con người; thơ nói bằng cảm xúc, hình ảnh chứ không bằng ý niệm; chữ và tiếng trong thơ có sức gọi vượt ra ngoài nghĩa; thơ có nhịp điệu bên trong.
  • Phần 3: Quan niệm về vấn đề vần và thơ tự do – luật lệ là “võ khí” mạnh nhưng không phải yếu tố quyết định; điều quan trọng là thơ phải diễn tả được tâm hồn con người mới ngày nay.

b) Mối quan hệ giữa các phần:

  • Ba phần có quan hệ chặt chẽ, logic:
    • Phần 1 (bình luận quan niệm cũ) là cơ sở để tác giả đưa ra ý kiến riêng.
    • Phần 2 (bản chất thơ) là trọng tâm của bài viết.
    • Phần 3 (hình thức thơ) bổ sung, hoàn thiện cho quan niệm về thơ.
  • Tất cả cùng làm rõ luận đề: quan niệm về thơ của tác giả.

Câu 2: Ở phần 1 của văn bản, những quan niệm nào về thơ đã được tác giả nêu lên để nhận xét? Mục đích của việc nhận xét đó là gì?

a) Các quan niệm được nêu:

  • Quan niệm 1: “thơ là những lời đẹp” – tác giả bác bỏ bằng dẫn chứng thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du (những câu dùng chữ nôm na, tầm thường vẫn thành thơ).
  • Quan niệm 2: thơ phải nói về đề tài đẹp (phong hoa tuyết nguyệt, nhớ mong sầu luỵ) – tác giả bác bỏ bằng dẫn chứng Bô-đơ-le (xác chó chết), và các hình ảnh kháng chiến (xe đạp, ba dô ca, ba lô, dây thép gai).
  • Quan niệm 3: “thơ khác văn xuôi ở chỗ thơ in sâu vào trí nhớ” – tác giả thừa nhận là tài tình nhưng cho rằng vẫn chưa cắt nghĩa được vì sao thơ có hiệu quả ấy.

b) Mục đích của việc nhận xét:

  • Bác bỏ những cách hiểu phiến diện, chưa đầy đủ về thơ.
  • Tạo cơ sở để đưa ra quan niệm riêng ở các phần sau.
  • Thể hiện thái độ khoa học: kế thừa cái đúng, phê phán cái sai lệch.
  • Dẫn dắt người đọc theo mạch từ những cách hiểu cũ đến quan niệm mới.

Câu 3: Chỉ ra các luận điểm thể hiện quan niệm của tác giả về thơ, phân tích cách triển khai một luận điểm tiêu biểu.

a) Các luận điểm chính:

STT Luận điểm
1 Đặc trưng cơ bản nhất của thơ: thể hiện “thế giới bên trong tâm hồn con người”.
2 Thơ không biểu đạt bằng ý niệm, bằng luận lí, mà bằng hình ảnh thấm đẫm cảm xúc.
3 Chữ và tiếng trong thơ phải có nhịp điệu, nhạc điệu – không chỉ gọi tên sự vật mà còn gợi ra những ý tứ sâu xa.
4 Những luật lệ của thơ (âm điệu, vần) là những “võ khí rất mạnh” trong tay người làm thơ.

b) Phân tích cách triển khai luận điểm 2: “Thơ không biểu đạt bằng ý niệm, luận lí, mà bằng hình ảnh thấm đẫm cảm xúc”

  • Giải thích: nói bằng ý niệm thuần tuý là chuyện của triết học, luận lí; thơ nói bằng cảm xúc nên có sức lay động chiều sâu tâm hồn.
  • Bình luận: những hình ảnh trong thơ bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột, tươi nguyên vì nhà thơ “nhìn bằng con mắt của người đầu tiên”.
  • Chứng minh: dẫn đoạn ca dao “Trên trời có đám mây xanh / Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng / Ước gì anh lấy được nàng…” – luận lí chưa hiểu nhưng tâm hồn đã hiểu và âm vang theo.

-> Luận điểm được xây dựng sáng rõ, mạch lạc, phối hợp nhuần nhị các thao tác giải thích, bình luận, chứng minh; có sức thuyết phụcgợi cảm cao.

Câu 4: Theo tác giả, điều gì đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo thơ? Tác giả đã dùng những thao tác nghị luận nào để làm sáng tỏ điều đó?

a) Điều đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo thơ:

  • Sáng tạo thơ là tìm phương tiện phù hợp để biểu đạt rung cảm khác thường của tâm hồn nhà thơ trước cuộc sống.
  • Người làm thơ phải thực sự sống, gắn bó sâu sắc với thực tại – từ đó nảy sinh cảm xúc chân thực, mạnh mẽ.
  • Hình ảnh trong thơ cũng vô cùng quan trọng – phải mới mẻ, tươi nguyên, không rập khuôn.

b) Các thao tác nghị luận được sử dụng:

Thao tác Biểu hiện
Giải thích Cắt nghĩa các khái niệm “làm thơ”, “cảm xúc”, “hình ảnh”, “tư tưởng” trong thơ
Chứng minh Dẫn hình ảnh “trời xanh”, “mưa phùn”; dẫn đoạn ca dao “Trên trời có đám mây xanh…”
Bình luận Đánh giá về tư tưởng trong thơ: “tư tưởng nằm ngay trong cảm xúc, tình tự”
Bác bỏ Phản bác quan niệm “thơ nói bằng ý niệm thuần tuý” – vì như vậy là triết học, không phải thơ

-> Các thao tác được phối hợp nhuần nhuyễn, giúp quan điểm về sáng tạo thơ trở nên thuyết phục, sinh động.

Câu 5: Tác giả cho rằng: “chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác… Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”. Bạn có tán thành quan điểm đó không? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1 – Tán thành: Em hoàn toàn tán thành quan điểm của tác giả. Vì:
    • Bản chất thơ là diễn tả tâm hồn con người – hình thức chỉ là phương tiện.
    • Nếu cứng nhắc ép thơ vào một khuôn khổ nào đó, thơ sẽ mất đi sự tươi mớikhông theo kịp thời đại.
    • Nhiều bài thơ hay trong lịch sử đã phá bỏ khuôn mẫu cũ để tìm hình thức mới (thơ Mới, thơ tự do…). Điều quan trọng vẫn là nội dung, tình cảm chân thật mà bài thơ mang lại.
  • Cách 2 – Tán thành nhưng có bổ sung: Em đồng ý về cơ bản nhưng nghĩ cần bổ sung: hình thức tuy không quyết định giá trị thơ, nhưng hình thức phù hợp vẫn giúp thơ truyền cảm mạnh hơn. Chẳng hạn, thơ lục bát có nhịp điệu êm ái phù hợp với tình cảm da diết; thơ tự do phù hợp với những cảm xúc phức tạp, hiện đại. Vì vậy, không nên quá đề cao cũng không nên coi nhẹ hình thức – cả nội dung và hình thức đều cần được chú trọng.

Câu 6: Theo bạn, nội dung nghị luận của văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác thơ hiện nay nữa không? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Nội dung văn bản vẫn còn nguyên giá trị đối với thực tế sáng tác thơ hôm nay. Bởi:
    • Những quan niệm về bản chất thơ – thơ bắt nguồn từ tâm hồn, thơ nói bằng cảm xúc, hình ảnh – là chân lí muôn đời, không riêng gì thời nào.
    • Quan điểm về hình thức thơ đặc biệt phù hợp với thời đại đa dạng, tự do trong sáng tác hiện nay.
    • Bài viết còn nhắc nhở người sáng tác phải thực sự sống, gắn bó với cuộc sống để có cảm xúc chân thực.
  • Cách 2: Em cho rằng bài viết vẫn có ý nghĩa nhưng cần được bổ sung, phát triển. Vì thơ đương đại đã có nhiều biến chuyển: thơ thị giác, thơ điện tử, thơ tương tác… Những vấn đề mới ấy chưa được bàn đến trong bài viết. Tuy nhiên, tinh thần cốt lõi – thơ là tiếng nói của tâm hồn – thì vẫn là kim chỉ nam cho mọi thời đại.

Câu 7: Từ văn bản này, bạn rút ra được điều gì bổ ích cho bản thân trong việc hiểu bản chất của thơ và việc đọc thơ?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Từ bài viết, em rút ra được nhiều điều bổ ích:
    • Về bản chất của thơ: thơ không phải là lời đẹp hay đề tài đẹp, mà là tiếng nói của tâm hồn, là cảm xúc chân thật.
    • Về cách đọc thơ: cần đọc bằng cả tâm hồn, không chỉ bằng lí trí; phải cảm nhận được những hình ảnh, nhịp điệu bên trong của bài thơ, chứ không chỉ dừng ở nghĩa của từng chữ.
    • Đọc thơ là để tự rung động, không phải để phân tích khô khan.
  • Cách 2: Bài viết giúp em nhận ra:
    • Thơ hay không nằm ở hình thức bên ngoài mà ở chiều sâu tâm hồn nhà thơ.
    • Khi đọc thơ, cần mở lòng, để cảm xúc mình cùng ngân vang với cảm xúc bài thơ.
    • Cần đọc thơ chậm rãi, cảm nhận từng chữ, từng hình ảnh – vì như tác giả nói, mỗi chữ trong thơ như “một ngọn nến đang cháy”, toả sáng ra xung quanh.

V. Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cách hiểu của bạn về ý kiến: “Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc”.

Đoạn văn tham khảo 1 – Hiểu ý kiến theo hướng chức năng của thơ:

Ý kiến “Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc” của Nguyễn Đình Thi đã cho thấy bản chất và sức mạnh của thơ ca. Bài thơ được ví như “sợi dây” – hình ảnh giàu sức gợi – kết nối giữa tâm hồn nhà thơtâm hồn người đọc. Qua từng câu, từng chữ, từng hình ảnh, những cảm xúc, nỗi niềm của người sáng tác được “truyền” sang người thưởng thức. Tuy nhiên, sự truyền cảm ấy không phải một chiều: người đọc không đứng yêntự tạo cho mình trạng thái tâm lí ấy, khi các sợi dây tâm hồn rung lên vì chạm phải những hình ảnh, ý nghĩ trong bài thơ. Nhờ “sợi dây” thiêng liêng ấy, con người có thể đồng cảm, giao hoà với nhau qua thời gian và không gian, tìm thấy tri âm ở những tâm hồn xa lạ. Đó chính là giá trị bền vững khiến thơ ca luôn có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của nhân loại.

Đoạn văn tham khảo 2 – Hiểu ý kiến gắn với trải nghiệm cá nhân:

Câu nói “Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc” của Nguyễn Đình Thi đã khẳng định chức năng thẩm mĩ đặc biệt của thơ. Hình ảnh “sợi dây” gợi lên một cầu nối vô hình nhưng bền chặt giữa nhà thơngười đọc. Khi đọc một bài thơ hay, em từng có cảm giác rưng rưng, nghẹn ngào trước những câu chữ dường như đã nói hộ tâm sự của mình – như đọc thơ Xuân Quỳnh viết về tình yêu, thơ Nguyễn Duy viết về mẹ. Đó chính là lúc “sợi dây” thơ ca đã kết nối tâm hồn em với tâm hồn nhà thơ. Nhưng để “sợi dây” ấy thực sự vang lên, người đọc cũng phải mở lòng, để tâm hồn mình rung động cùng bài thơ. Bởi vậy, thơ không chỉ là sản phẩm của người sáng tác mà còn là cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn – đó là điều làm nên sức sống muôn đời của thơ ca.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện