Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Nguyễn Nam sinh năm 1961, quê ở tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội).
- Là người nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực: lịch sử tư tưởng, văn chương và điện ảnh Đông Á.
2. Văn bản
- Xuất xứ: đăng trên báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022.
- Thể loại: văn bản thông tin.
- Nội dung chính: đề cao vị trí và đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục trong lịch sử giáo dục Việt Nam – một mô hình tiêu biểu cho giáo dục khai phóng.
- Bố cục (4 phần): dựa vào các đề mục in đậm:
- Phần 1 (sa-pô + phần mở đầu): Giới thiệu về giáo dục khai phóng và Đông Kinh Nghĩa Thục.
- Phần 2 (Bối cảnh lịch sử): Điều kiện dẫn đến sự ra đời của Đông Kinh Nghĩa Thục.
- Phần 3 (Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam): Vị trí, tầm quan trọng và số phận của Đông Kinh Nghĩa Thục.
- Phần 4 (Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục): Đặc điểm và tinh thần khai phóng của nhà trường.
II. Trước khi đọc
Câu hỏi: Chia sẻ những hiểu biết của bạn về giáo dục khai phóng.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em hiểu giáo dục khai phóng là mô hình giáo dục nhằm giải phóng tư duy cho người học, giúp họ không bị bó buộc trong khuôn khổ máy móc. Người học được cung cấp nền tảng tri thức rộng, phát triển tư duy phản biện, khả năng phân tích, lập luận, biết tự đánh giá vấn đề. Đây là mô hình phổ biến ở nhiều đại học lớn trên thế giới.
- Cách 2: Em biết rằng giáo dục khai phóng là lối giáo dục không chú trọng đào tạo kĩ năng nghề nghiệp cụ thể, mà chú trọng hình thành con người toàn diện: có tri thức đa lĩnh vực, có tư duy độc lập, có khả năng thích ứng với những đổi thay của thời đại. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số trường đại học đi theo mô hình này.
III. Trong khi đọc
1. Đọc lướt phần nhan đề, sa-pô, đề mục, chữ in đậm để nắm bắt chủ đề, cấu trúc, nội dung chính
- Nhan đề: Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục -> khẳng định Đông Kinh Nghĩa Thục là điểm nhìn để bàn về giáo dục khai phóng Việt Nam.
- Sa-pô: giới thiệu Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập năm 1907 ở Hà Nội, là sự tích hợp thành tựu cải cách giáo dục Đông – Tây.
- Các đề mục in đậm (3 mục):
- Bối cảnh lịch sử.
- Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
- Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục.
-> Văn bản có cấu trúc mạch lạc, logic: từ bối cảnh ra đời -> vai trò lịch sử -> đặc điểm khai phóng.
2. Tìm các từ ngữ, chi tiết thể hiện nhận xét, đánh giá của tác giả về Đông Kinh Nghĩa Thục
- “đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam”.
- “sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông – Tây”.
- “nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại”.
- “Thời gian tồn tại ngắn ngủi… tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng”.
-> Tác giả đánh giá Đông Kinh Nghĩa Thục rất cao: là bước phát triển mới, có ảnh hưởng sâu rộng dù thời gian tồn tại ngắn.
3. Tìm các từ khoá và câu chủ đề trong mục “Bối cảnh lịch sử”
- Từ khoá: biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự; Đông Á; Mậu Tuất Duy tân; tân thư; Nhật Bản; Minh Trị Duy tân; dân trí, dân khí, dân sinh; giáo dục.
- Câu chủ đề: “Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì”.
4. Tóm tắt những điều kiện chính dẫn đến sự ra đời của Đông Kinh Nghĩa Thục
- Thất bại của Mậu Tuất Duy tân (Trung Hoa, 1898) -> truyền bá tư tưởng phương Tây vào Đông Á qua “tân thư”.
- Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật – Nga (1905) và thành tựu Minh Trị Duy tân -> các nước Đông Á phải cải cách để đối đầu với phương Tây.
- Nhận thức về dân trí, dân khí, dân sinh là những yếu tố then chốt cho tự cường dân tộc.
- Mô hình Khánh Ứng Nghĩa Thục ở Nhật (do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thăm năm 1906) -> nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can làm hiệu trưởng.
5. Chú ý nhận định của tác giả về Đông Kinh Nghĩa Thục
- Là “một trong những cải cách quan trọng nhất” trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
- Được tiến hành “không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên”, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng.
- Theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ.
-> Đánh giá cao vai trò của Đông Kinh Nghĩa Thục như một cải cách giáo dục đến từ nhân dân.
6. Tìm các bằng chứng được tác giả sử dụng để làm nổi bật nhận định của mình
- Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1937) – vừa ra mắt vài tháng đã bị cấm trên toàn cõi An Nam từ 17/3/1938.
- Khảo cứu Đời cách mệnh Phan Bội Châu của Đào Trinh Nhất cũng bị cấm cùng thời điểm.
- Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Hoa Bằng – Hoàng Thúc Trâm (1945) – bản thảo bị lạc do chiến tranh.
- Bản thảo về sau của Hoa Bằng – chưa được ấn hành cho đến nay.
7. Theo tác giả, đâu là điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa Thục trong lịch sử giáo dục Việt Nam?
Điểm nhấn then chốt:
- Là cải cách từ dưới lên, bắt nguồn từ dân chúng, do nhân sĩ đề xướng.
- Mang tinh thần độc lập dân tộc, yêu nước, mong cầu tiến bộ tri thức và dân chủ.
- Dám phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ đầu thế kỉ XX.
8. Chỉ ra các bằng chứng được tác giả sử dụng (mục Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục)
- Nhận định của Giám học Nguyễn Quyền về mục đích – tôn chỉ giáo hoá của Đông Kinh Nghĩa Thục (được trích trong sách của Đào Trinh Nhất).
- Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) – được xem là cương lĩnh giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục.
9. Khái quát những đặc điểm chính của Đông Kinh Nghĩa Thục
Sáu đặc điểm nổi bật (theo Giám học Nguyễn Quyền):
- Giảng dạy bằng ba thứ chữ: Pháp, Hán, Việt (cấp phổ thông chú trọng quốc văn).
- Chia làm ba cấp: Tiểu, Trung, Đại học; thu nhận cả nam sinh và nữ sinh; có giáo viên nữ. Học để làm người dân, không phải để từ chương khoa cử.
- Dạy miễn phí, cấp sách vở, giấy bút cho học sinh.
- Dạy khoa học thường thức, công nghệ thường thức để người học mưu sinh, tự tồn.
- Diễn thuyết công khai một lần mỗi tuần về các vấn đề giáo dục, khoa học; mở rộng cả ra các nơi khác.
- Tổ chức với mục đích thực nghiệm, sẵn sàng mở rộng ra ba kì.
10. Chú ý các từ ngữ, cách diễn đạt thể hiện thái độ, quan điểm của tác giả
- “dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm” -> thái độ ngưỡng mộ, trân trọng.
- “cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng” -> khẳng định giá trị lịch sử.
- “Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật” -> đánh giá cao tinh thần khai phóng.
- “tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam” -> đặt vào truyền thống, khẳng định tính kế thừa.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời trong bối cảnh lịch sử nào?
Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời (1907) trong bối cảnh có nhiều biến động lớn ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX:
- Việt Nam bị thực dân Pháp cai trị, phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam).
- Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa (1898) -> Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lưu vong sang Nhật, mở đường cho việc truyền bá tư tưởng phương Tây qua “tân thư”.
- Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật – Nga (1905) và những thành tựu Minh Trị Duy tân -> các nước Đông Á phải cải cách để đối đầu với phương Tây.
- Nhận thức về dân trí, dân khí, dân sinh là những yếu tố then chốt để tự cường dân tộc – cần được triển khai từ nền tảng giáo dục.
- Mô hình Khánh Ứng Nghĩa Thục ở Nhật, được Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thăm năm 1906, trở thành nguồn cảm hứng trực tiếp.
Câu 2: Theo tác giả, điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa Thục là gì? Tác giả đã sử dụng những dữ liệu nào để làm rõ điều này?
a) Điểm nhấn then chốt:
- Là cải cách được tiến hành từ dưới lên, bắt nguồn từ dân chúng, do nhân sĩ đề xướng.
- Theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ.
- Dám phá bỏ kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.
b) Các dữ liệu được sử dụng để làm rõ:
- Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (Nhà in Mai Lĩnh, 1937) – vừa ra mắt vài tháng đã bị cấm trên toàn cõi An Nam từ 17/3/1938.
- Khảo cứu Đời cách mệnh Phan Bội Châu của Đào Trinh Nhất – bị cấm cùng thời điểm.
- Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Hoa Bằng – Hoàng Thúc Trâm (1945) – bản thảo bị lạc do chiến tranh.
- Bản thảo về sau của Hoa Bằng – chưa được ấn hành.
- Chính quyền thuộc địa dán cho Đông Kinh Nghĩa Thục cái nhãn “hội kín” (société sécrète).
-> Những dữ liệu này cho thấy: sự trấn áp gay gắt của thực dân Pháp và nỗ lực bảo vệ, khẳng định giá trị của Đông Kinh Nghĩa Thục từ giới trí thức Việt Nam. Đó cũng là bằng chứng gián tiếp khẳng định vai trò và ảnh hưởng lớn của ngôi trường.
Câu 3: Giáo dục khai phóng có những đặc điểm gì? Vì sao tác giả lại cho rằng Đông Kinh Nghĩa Thục là một mô hình giáo dục khai phóng?
a) Đặc điểm của giáo dục khai phóng:
- Cung cấp nền tảng tri thức rộng mở.
- Giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt ý tưởng, thông tin rõ ràng.
- Chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.
b) Vì sao Đông Kinh Nghĩa Thục là mô hình giáo dục khai phóng?
Vì Đông Kinh Nghĩa Thục có đầy đủ các đặc trưng của giáo dục khai phóng:
- Nền tảng tri thức rộng, đa văn tự: giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt – vừa hoà nhập thế giới hiện đại, vừa không cắt đứt căn rễ văn hoá.
- Cởi mở, dân chủ: thu nhận cả nam sinh và nữ sinh; có giáo viên nữ; dạy miễn phí, cấp sách vở.
- Chú trọng thực học: dạy khoa học thường thức, công nghệ thường thức để người học tự mưu sinh; bỏ lối học từ chương, khoa cử.
- Khuyến khích tự do học thuật, tư duy phản biện: “cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà”.
- Mở rộng ra xã hội: tổ chức diễn thuyết công khai hàng tuần, mở rộng ra các nơi khác.
- Có tinh thần thực nghiệm để sẵn sàng nhân rộng ra ba kì.
-> Với những đặc điểm này, Đông Kinh Nghĩa Thục đã hình thành người học có tư duy khoa học, cởi mở – phản biện, nặng lòng ái quốc, sẵn sàng học hỏi từ thế giới mà vẫn giữ bản sắc dân tộc.
Câu 4: Các thông tin trong văn bản được chọn lọc, sắp xếp theo trình tự nào? Cách sắp xếp đó có thuyết phục không? Vì sao?
a) Trình tự sắp xếp thông tin:
- Phần mở đầu (sa-pô + đoạn giới thiệu): khái quát về giáo dục khai phóng và giới thiệu Đông Kinh Nghĩa Thục.
- Phần 1 – Bối cảnh lịch sử: những điều kiện, tiền đề dẫn đến sự ra đời của Đông Kinh Nghĩa Thục.
- Phần 2 – Điểm nhấn then chốt: vị trí, tầm quan trọng và số phận của Đông Kinh Nghĩa Thục trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
- Phần 3 – Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục: đặc điểm cụ thể thể hiện tinh thần khai phóng.
-> Thông tin được sắp xếp theo trình tự logic: từ khái niệm chung -> bối cảnh ra đời -> vai trò lịch sử -> đặc điểm cụ thể.
b) Đánh giá tính thuyết phục:
Cách sắp xếp này rất thuyết phục, vì:
- Giúp người đọc dễ theo dõi, tiếp cận vấn đề từ khái quát đến cụ thể.
- Mỗi phần đều có câu chủ đề rõ ràng, có dữ liệu và bằng chứng đi kèm.
- Trình tự phù hợp với logic nhận thức: hiểu bối cảnh trước, rồi mới thấy được vai trò và đặc trưng của đối tượng.
- Có sự liên kết chặt chẽ giữa các phần, tạo thành một tổng thể mạch lạc.
Câu 5: Phân tích tác dụng của việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản
a) Các phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản:
- Ảnh 1: Căn nhà số 4 (nhà riêng cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 ở phố Hàng Đào, Hà Nội – cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục.
- Ảnh 2: Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (Nhà in Mai Lĩnh, 1937) kèm chân dung Giám học Nguyễn Quyền.
- Ảnh 3: Quyết định cấm hai tác phẩm ngày 17/3/1938 in trong Bulletin administratif de l’Annam.
b) Tác dụng:
- Trực quan hoá thông tin: giúp người đọc hình dung cụ thể về không gian, thời gian và bối cảnh xã hội đầu thế kỉ XX.
- Tăng độ tin cậy của văn bản: các hình ảnh có nguồn dẫn cụ thể (Henri Gourdon, Thư viện Quốc gia Pháp…), là bằng chứng lịch sử xác thực.
- Bổ sung thông tin mà ngôn ngữ khó biểu đạt trọn vẹn: kiến trúc nhà cửa, cách trình bày bìa sách, hình thức văn bản hành chính thời thuộc địa…
- Khơi gợi cảm xúc, liên tưởng ở người đọc về một giai đoạn lịch sử đã qua.
- Ảnh Quyết định cấm là bằng chứng trực tiếp về sự trấn áp của thực dân, làm nổi bật thái độ đối kháng của chính quyền thuộc địa với Đông Kinh Nghĩa Thục.
-> Nếu không có các hình ảnh này, giá trị của văn bản sẽ giảm sút đáng kể vì thiếu tính trực quan và bằng chứng lịch sử.
Câu 6: Tác giả nhận xét, đánh giá thế nào về Đông Kinh Nghĩa Thục? Có gì thiên kiến trong cách nhận xét, đánh giá đó không? Hãy lí giải về điều này.
a) Nhận xét, đánh giá của tác giả:
- Đông Kinh Nghĩa Thục có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với truyền thống giáo dục Việt Nam và sự phát triển của xã hội Việt Nam.
- Dù thời gian tồn tại ngắn ngủi (khoảng 10 tháng) và nội dung còn sơ khai, ngôi trường đã có “dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm” – xứng đáng là một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.
- Đông Kinh Nghĩa Thục tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam.
b) Có thiên kiến hay không?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em cho rằng cách đánh giá của tác giả không có thiên kiến. Vì:
- Tác giả dựa trên dữ liệu khách quan, đáng tin cậy: có dẫn chứng cụ thể (nhận định của Giám học Nguyễn Quyền, Văn minh tân học sách, các mốc thời gian, quyết định cấm sách…).
- Kết hợp cả kênh chữ và kênh hình để cung cấp thông tin đa chiều.
- Sử dụng các thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh một cách logic để làm rõ quan điểm.
- Cách 2: Em nghĩ rằng trong cách đánh giá của tác giả có thái độ trân trọng, ngưỡng mộ rõ rệt (thể hiện qua các từ như “dũng khí”, “cần được ghi nhận”, “tinh thần khai phóng”…) – nhưng đây không phải là thiên kiến chủ quan mà là quan điểm có cơ sở từ các dữ liệu và lập luận chặt chẽ. Cách đánh giá ấy là hợp lí, thuyết phục.
Câu 7: Từ những thông tin được cung cấp trong văn bản, bạn suy nghĩ như thế nào về giá trị của giáo dục nói chung và giáo dục khai phóng nói riêng?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Qua văn bản, em nhận ra giáo dục có vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của dân tộc: giáo dục là nền tảng để nâng cao dân trí, dân khí, dân sinh. Riêng giáo dục khai phóng có ưu điểm vượt trội: giúp người học có tư duy độc lập, phản biện, có khả năng thích ứng với đổi thay. Đông Kinh Nghĩa Thục cho thấy: dù ngắn ngủi, một mô hình giáo dục khai phóng đúng nghĩa có thể tạo ra ảnh hưởng lâu dài đến một dân tộc.
- Cách 2: Em cho rằng giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là giải phóng tư duy cho con người. Giáo dục khai phóng – với tinh thần cởi mở, dân chủ, tôn trọng sự đa dạng – là hướng đi phù hợp cho một xã hội hiện đại. Từ bài học của Đông Kinh Nghĩa Thục, em thấy giáo dục khai phóng có thể giúp con người vừa hoà nhập với thế giới, vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc – đây là điều rất cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
- Cách 3: Em nghĩ giáo dục khai phóng chính là con đường tạo ra những công dân toàn diện: vừa có tri thức, vừa có bản lĩnh, vừa biết yêu nước, vừa biết hoà nhập. Đông Kinh Nghĩa Thục dù chỉ tồn tại 10 tháng nhưng đã cho thấy tầm nhìn đi trước thời đại của những nhân sĩ Việt Nam đầu thế kỉ XX. Từ đó, em càng thấm thía giá trị của việc đầu tư cho giáo dục – đó chính là đầu tư cho tương lai của mỗi con người và của cả dân tộc.
V. Kết nối đọc – viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về một dữ liệu gây ấn tượng mạnh mẽ với bạn trong văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục.
Đoạn văn tham khảo 1 – Dữ liệu về việc thu nhận cả nam sinh và nữ sinh:
Trong văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục của Nguyễn Nam, dữ liệu để lại trong em ấn tượng mạnh mẽ nhất là việc Đông Kinh Nghĩa Thục thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học, đồng thời có cả giáo viên nữ giảng dạy. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ”, khi phụ nữ chưa được đến trường, thì việc ngôi trường này dám phá bỏ định kiến, mở cửa cho phụ nữ đi học và cả đi dạy là một hành động thực sự cách mạng. Chi tiết ấy khiến em thêm khâm phục tầm nhìn đi trước thời đại và tinh thần bình đẳng của những nhân sĩ sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó là bài học quý báu về giá trị của bình đẳng giới trong giáo dục – điều mà đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự.
Đoạn văn tham khảo 2 – Dữ liệu về việc sách Đông Kinh Nghĩa Thục bị cấm:
Trong văn bản của Nguyễn Nam, dữ liệu khiến em suy nghĩ nhiều nhất là chi tiết sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất vừa in ra vài tháng đã bị cấm trên toàn cõi An Nam từ ngày 17/3/1938, và tên gọi “Đông Kinh Nghĩa Thục” đã trở thành “một từ cấm kị” trong một thời gian dài. Dữ liệu ấy khiến em nhận ra: thực dân Pháp lo sợ Đông Kinh Nghĩa Thục đến mức nào – không phải vì nội dung khoa học đơn thuần mà vì tinh thần yêu nước, tự do tư tưởng mà ngôi trường ấy đại diện. Điều đó gián tiếp khẳng định giá trị to lớn của Đông Kinh Nghĩa Thục: chỉ tồn tại 10 tháng mà đã trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân hàng chục năm sau. Đây cũng là lời nhắc nhở về sức mạnh của tri thức và giáo dục trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, giữ gìn bản sắc dân tộc.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
