Soạn bài: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu) – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

  • Trần Đình Hượu (1926 – 1995), quê ở tỉnh Nghệ An.
  • chuyên gia nghiên cứu tư tưởng phương Đông, văn hoá, văn học Việt Nam thời trung đại và giai đoạn giao thời.
  • tư tưởng nghiên cứu độc lập, nêu được nhiều vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc tìm hiểu, đánh giá tư tưởng, văn hoá, văn học truyền thống.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (chủ biên, 1988), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Đến hiện đại từ truyền thống (1996)…

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ, vị trí: trích phần II của tiểu luận Về vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc, công bố năm 1986, in trong tập Đến hiện đại từ truyền thống (1996).
  • Thể loại: văn bản nghị luận (tiểu luận).
  • Nội dung chính: những nhận định mang tính bao quát về bản sắc văn hoá Việt Nam – vừa nêu điểm mạnh, vừa chỉ ra điểm hạn chế, hướng đến việc xây dựng, phát triển văn hoá dân tộc trong bối cảnh hiện đại.
  • Bố cục: có thể chia thành 3 phần:
    • Phần 1 (đoạn 1): Nêu vấn đề nghị luận.
    • Phần 2 (đoạn 2 đến “nhiều bất trắc?”): Trình bày các đặc điểm của văn hoá Việt Nam.
    • Phần 3 (còn lại): Kết luận về tinh thần chung và con đường hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam.

II. Trước khi đọc

Câu 1: Hãy chia sẻ hiểu biết của bạn về một số di tích văn hoá tiêu biểu của nước ta. Theo bạn, đặc điểm nổi bật ở những di tích ấy là gì?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Việt Nam có nhiều di tích văn hoá tiêu biểu: Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Chùa Một Cột… Đặc điểm nổi bật: giàu bản sắc dân tộc, mang dấu ấn lịch sử lâu đời, thể hiện sự tinh tế, hài hoà trong nghệ thuật kiến trúc và gắn bó với đời sống tinh thần của người Việt.
  • Cách 2: Em từng biết đến các di tích như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Chùa Hương, Đền Hùng, Thành nhà Hồ… Đặc điểm chung: quy mô không quá đồ sộ nhưng lại hài hoà với thiên nhiên, chú trọng ý nghĩa văn hoá – tinh thần hơn là sự phô trương. Chúng thể hiện tâm hồn, cách sống của người Việt: giản dị, tinh tế, hướng nội.

Câu 2: Trong xu thế hội nhập hiện nay, vì sao người Việt Nam cần có hiểu biết về văn hoá truyền thống của dân tộc mình?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Trong xu thế hội nhập, mỗi người Việt Nam cần hiểu biết về văn hoá truyền thống vì:
    • Đó là cội nguồn, là bản sắc làm nên chính chúng ta – không có gốc rễ thì dễ bị hoà tan giữa dòng chảy văn hoá thế giới.
    • Hiểu biết văn hoá dân tộc giúp mỗi người trở thành “đại sứ văn hoá”, quảng bá vẻ đẹp Việt Nam ra bạn bè quốc tế.
    • Đó là cơ sở để gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp cho các thế hệ mai sau.
  • Cách 2: Em cho rằng hiểu biết văn hoá dân tộc là điều kiện cần để hội nhập thành công. Bởi hội nhập không phải là hoà tan: chỉ khi có bản sắc riêng, chúng ta mới có gì để giới thiệu, đóng góp cho văn hoá nhân loại. Ngược lại, thiếu hiểu biết về gốc rễ dễ dẫn đến tự ti hoặc sùng ngoại một cách mù quáng.

III. Trong khi đọc

1. Cách nêu vấn đề nghị luận

  • Tác giả nêu vấn đề ngắn gọn, trực tiếp trong một vế câu ở đoạn mở đầu: “chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét về vài ba mặt của cái vốn văn hoá dân tộc”.
  • Cách nêu khiêm tốn, thận trọng (“trong lúc chờ đợi kết luận khoa học…”, “chúng tôi không nghĩ đó là đặc sắc văn hoá dân tộc nhưng chắc chắn có liên quan gần gũi với nó”).

-> Cách nêu vấn đề rõ ràng, khoa học, giúp người đọc nắm ngay phạm vi và tính chất nghiên cứu của bài viết.

2. Chú ý luận điểm được nêu và cách lập luận để làm sáng tỏ luận điểm

  • Luận điểm: “Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật.”
  • Cách lập luận: đưa ra hàng loạt bằng chứng cụ thể trên nhiều lĩnh vực để chứng minh:
    • Thần thoại: không phong phú.
    • Tôn giáo, triết học: không phát triển; người Việt không có tâm lí kiền thành, cuồng tín.
    • Khoa học, kĩ thuật: không có ngành nào phát triển thành truyền thống.
    • Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc: không phát triển đến tuyệt kĩ.
    • Thơ ca: phát triển nhất nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm không có.

-> Lập luận chặt chẽ, kết hợp phân tích và chứng minh ở nhiều lĩnh vực để tăng tính thuyết phục.

3. Cách nói có tính khẳng định của tác giả về các nội dung được bàn luận

  • Tác giả sử dụng nhiều câu khẳng định trực tiếp: “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo”, “Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia”, “Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng”, “Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo”
  • Cách nói dứt khoát, ngắn gọn, đi thẳng vào bản chất vấn đề.
  • Kết hợp với các câu hỏi tu từ (“Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu…?”) để gợi mở suy nghĩ cho người đọc.

-> Cách nói vừa khẳng định vừa để ngỏ, thể hiện sự tự tin về những nhận định nhưng vẫn giữ thái độ khoa học, cầu thị.

4. Chú ý thái độ của tác giả khi bàn về văn hoá Việt Nam

  • Khách quan, điềm tĩnh: không ca ngợi thái quá, cũng không chê bai cực đoan.
  • Thẳng thắn: dám chỉ ra những hạn chế của văn hoá dân tộc (không đồ sộ, không có cống hiến lớn lao, không có đặc sắc nổi bật…).
  • Trân trọng: nhìn ra được những giá trị bền vững“tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà”, người Việt Nam “sống có văn hoá”.
  • Tin tưởng: khẳng định “dân tộc Việt Nam có bản lĩnh” trong việc chiếm lĩnh, đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài.

-> Thái độ ấy thể hiện tinh thần khoa học của một nhà nghiên cứu chân chính, đồng thời cho thấy tấm lòng yêu nước thầm kín, sâu sắc.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Xác định vấn đề nghị luận của văn bản. Chỉ ra mối liên hệ giữa vấn đề đó với nhan đề của văn bản.

a) Vấn đề nghị luận:

  • Được nêu khái quát trong một vế câu ở đoạn mở đầu: “chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét về vài ba mặt của cái vốn văn hoá dân tộc”.
  • Nói cách khác, tác giả bàn về những đặc điểm nổi bật làm nên bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

b) Mối liên hệ với nhan đề:

  • Nội dung nghị luận hoàn toàn thống nhất với nhan đề “Nhìn về vốn văn hoá dân tộc”.
  • “Nhìn về” nghĩa là tìm hiểu, khám phá, đánh giá; “vốn văn hoá dân tộc”những giá trị tích luỹ được qua lịch sử.
  • Kết quả của việc “nhìn về” chính là những nhận xét, đánh giá được rút ra trong bài viết.

-> Nhan đề phù hợp, khái quát đúng nội dung và tinh thần của văn bản.

Câu 2: Đặc điểm của văn hoá Việt Nam được tác giả khái quát bằng những luận điểm nào? Tác giả căn cứ vào đâu để khái quát như vậy?

a) Hệ thống các luận điểm chính:

STT Luận điểm Căn cứ (lí lẽ, bằng chứng)
1 Chúng ta không có nền văn hoá đồ sộ, không có cống hiến lớn lao, không có đặc sắc nổi bật. Thần thoại, tôn giáo, triết học, khoa học, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc… đều không phát triển đến tuyệt kĩ.
2 Người Việt Nam coi trọng cuộc sống hiện thế, ít tinh thần tôn giáo. Lo cho con cháu hơn linh hồn; mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp; chuộng con người hiền lành, tình nghĩa; ca tụng sự khôn khéo.
3 Người Việt Nam ưa cái vừa phải, chừng mực, không thích cầu kì. Màu sắc chuộng dịu dàng, thanh nhã; quy mô vừa khéo; giao tiếp hợp tình, hợp lí; áo quần, món ăn không cầu kì.
4 Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Lối sống, quan niệm sống của người Việt.
5 Văn hoá Việt Nam là sự dung hợp giữa cái vốn có, cái riêng và tiếp thu cái bên ngoài. Ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, tư tưởng Lão – Trang.

b) Căn cứ để khái quát:

  • Tác giả dựa vào biểu hiện nhiều mặt của văn hoá Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử: tôn giáo, văn chương, âm nhạc, kiến trúc, quân sự, lối sống, giao tiếp, ứng xử, việc tiếp thu các triết thuyết Nho, Phật, Lão
  • Từ thực tế đa dạng, phong phú đó, tác giả rút ra các luận điểm mang tính khái quát.

Câu 3: “Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật” – luận điểm này đã được tác giả chứng minh như thế nào? Lập luận của tác giả có sức thuyết phục không? Vì sao?

a) Cách chứng minh của tác giả:

  • Đưa ra hàng loạt bằng chứng trên nhiều lĩnh vực:
    • Thần thoại: không phong phú.
    • Tôn giáo, triết học: không phát triển; người Việt không kiền thành, cuồng tín; các tôn giáo đều biến thành lối thờ cúng.
    • Khoa học, kĩ thuật: không có ngành nào phát triển thành truyền thống.
    • Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc: không phát triển đến tuyệt kĩ.
    • Thơ ca: phát triển nhất nhưng hầu như ai cũng có thể làm dăm ba câu, không có nhiều nhà thơ để lại nhiều tác phẩm; xã hội trọng văn chương nhưng bản thân nhà thơ không coi sự nghiệp mình là ở thơ ca.
  • Rút ra kết luận về nguyên nhân: đó là văn hoá của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, không có sự kích thích của đô thị.

b) Lập luận có sức thuyết phục vì:

  • Bằng chứng đa dạng, phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực.
  • Trình bày mạch lạc, đi từ hiện tượng đến nguyên nhân sâu xa.
  • Ngôn ngữ khẳng định, dứt khoát nhưng vẫn giữ được thái độ khách quan.
  • Tác giả không né tránh hay tô vẽ, dám chỉ ra những hạn chế của văn hoá dân tộc – điều mà ít nhà nghiên cứu dám làm.

-> Sức thuyết phục đến từ sự trung thực khoa họccách lập luận chặt chẽ, có căn cứ.

Câu 4: Khi nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, tác giả đã bộc lộ thái độ gì? Bạn suy nghĩ như thế nào về thái độ nghiên cứu đó?

a) Thái độ của tác giả:

  • Khách quan, điềm tĩnh: không sa vào ca ngợi thái quá hay chê bai cực đoan.
  • Thẳng thắn, trung thực khoa học: dám chỉ ra những hạn chế của văn hoá dân tộc.
  • Trân trọng, tin tưởng: khẳng định vẫn có những giá trị bền vững (“thiết thực, linh hoạt, dung hoà”) và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam.
  • Có tinh thần yêu nước sâu sắc, thầm kín: ẩn sau giọng văn khách quan là mong muốn xây dựng, phát triển văn hoá dân tộc.

b) Suy nghĩ về thái độ ấy:

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em trân trọng, đồng tình với thái độ nghiên cứu của tác giả. Đó là thái độ khoa học, đúng mực – vừa thẳng thắn nhận diện hạn chế, vừa tin tưởng vào giá trị dân tộc. Chỉ khi nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta mới có thể khắc phục khuyết điểm và phát triển đúng hướng.
  • Cách 2: Em nghĩ đây là thái độ mẫu mực của một nhà nghiên cứu chân chính. Yêu nước không có nghĩa là ca ngợi mù quáng; ngược lại, chính vì yêu nước sâu sắc mà tác giả mới có đủ bản lĩnh để chỉ ra những gì cần khắc phục. Thái độ ấy đáng để chúng ta – thế hệ trẻ – học hỏi.

Câu 5: Nêu và phân tích một số thao tác nghị luận được tác giả sử dụng nhằm làm tăng tính thuyết phục cho văn bản.

  • Thao tác chứng minh: đưa ra hàng loạt bằng chứng trên nhiều lĩnh vực (tôn giáo, triết học, khoa học, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, thơ ca…) để chứng minh luận điểm “chúng ta không có nền văn hoá đồ sộ…”.
  • Thao tác giải thích: cắt nghĩa những nhận định của mình để người đọc hiểu rõ hơn. Ví dụ: để nói rõ người Việt ít tinh thần tôn giáo, tác giả giải thích: “Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình”.
  • Thao tác phân tích: chia tách đối tượng ra nhiều bình diện để soi xét. Ví dụ, khi nói về cái đẹp trong quan niệm người Việt, tác giả phân tích từng phương diện: màu sắc, quy mô, giao tiếp, ứng xử, áo quần, món ăn
  • Thao tác bình luận: đánh giá, nêu chủ kiến. Ví dụ: “Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình”.
  • Thao tác bác bỏ: ngầm phản bác quan điểm đề cao thái quá tầm vóc, quy mô của văn hoá Việt Nam mà một số người thường có.

-> Các thao tác được phối hợp linh hoạt, nhuần nhị, trong đó chứng minh và phân tích là hai thao tác chủ đạo, được hỗ trợ bởi các thao tác khác để tạo nên sức thuyết phục cao cho văn bản.

Câu 6: Theo bạn, trong bài viết, kết luận nào về văn hoá Việt Nam là quan trọng nhất? Kết luận đó gợi cho bạn những suy nghĩ gì?

a) Kết luận quan trọng nhất:

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Kết luận quan trọng nhất là: “Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà.”
    • Đây là kết luận thâu tóm toàn bộ các luận điểm đã trình bày trước đó.
    • Nêu bật đặc điểm cốt lõi của văn hoá dân tộc: không phô trương, không cực đoan, biết dung nạp và biến đổi cho phù hợp với thực tế.
    • Định hướng cho việc nghiên cứu sâu hơn về từng bình diện văn hoá.
  • Cách 2: Em cho rằng câu “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài” là kết luận có ý nghĩa nhất.
    • Đây là chân lí về con đường phát triển văn hoá của mọi dân tộc.
    • Đặc biệt phù hợp trong thời đại hội nhập hiện nay.
    • Khẳng định bản lĩnh Việt Nam trong việc tiếp nhận và biến đổi các giá trị ngoại lai.

b) Suy nghĩ gợi ra:

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Kết luận ấy gợi cho em nhiều suy nghĩ về con đường phát triển văn hoá trong tương lai. Chúng ta cần giữ gìn tinh thần thiết thực, linh hoạt, dung hoà – vốn là bản sắc dân tộc; đồng thời phải tránh sự bảo thủ hay tự ti trước văn hoá ngoại lai. Là người trẻ, em thấy mình có trách nhiệm tìm hiểu và phát huy vốn văn hoá dân tộc.
  • Cách 2: Kết luận gợi cho em nhận thức rằng văn hoá không đứng yên mà luôn vận động, biến đổi. Trong xu thế hội nhập, mỗi người Việt cần vừa biết mình, vừa biết người – vừa gìn giữ cái riêng vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại. Có như vậy, văn hoá Việt Nam mới giàu có, phong phú hơn mà vẫn giữ được bản sắc riêng.

V. Kết nối đọc – viết

Từ câu chủ đề “Trong quá trình hiện đại hoá đất nước, việc tìm hiểu truyền thống văn hoá dân tộc là rất cần thiết.”, hãy viết tiếp một số câu để hoàn thành đoạn văn theo kiểu diễn dịch (khoảng 150 chữ).

Đoạn văn tham khảo 1 – Nhấn mạnh vai trò của bản sắc trong hội nhập:

Trong quá trình hiện đại hoá đất nước, việc tìm hiểu truyền thống văn hoá dân tộc là rất cần thiết. Thứ nhất, văn hoá truyền thống chính là cội nguồn, là bản sắc làm nên chính chúng ta – không có gốc rễ thì rất dễ bị hoà tan giữa dòng chảy văn hoá thế giới. Thứ hai, hiểu biết văn hoá dân tộc giúp chúng ta biết chọn lọc, biết dung hoà giữa cái truyền thống và cái hiện đại, giữa cái riêng và cái chung của nhân loại – đúng như tinh thần “thiết thực, linh hoạt, dung hoà” mà Trần Đình Hượu đã nêu. Thứ ba, khi tự tin về vốn văn hoá của mình, mỗi người Việt Nam sẽ trở thành “đại sứ văn hoá”, góp phần quảng bá vẻ đẹp Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, tìm hiểu truyền thống văn hoá dân tộc không phải là quay về quá khứ, mà chính là hành trang vững chắc để chúng ta bước vào tương lai.

Đoạn văn tham khảo 2 – Nhấn mạnh trách nhiệm của thế hệ trẻ:

Trong quá trình hiện đại hoá đất nước, việc tìm hiểu truyền thống văn hoá dân tộc là rất cần thiết. Trước hết, đó là cách để mỗi người – nhất là thế hệ trẻ – biết rõ mình là ai, đến từ đâu, để không bị choáng ngợp trước những trào lưu ngoại lai. Bên cạnh đó, hiểu biết văn hoá truyền thống giúp chúng ta nhận ra những giá trị bền vững đã được cha ông đúc kết qua bao thế hệ – đó là sự thiết thực, linh hoạt, dung hoà trong lối sống; là tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa; là sự tinh tế, khéo léo trong ứng xử. Hơn nữa, chỉ khi thật sự hiểu và trân trọng văn hoá dân tộc, chúng ta mới có đủ bản lĩnh để tiếp thu tinh hoa nhân loại mà không đánh mất chính mình. Do đó, mỗi người trẻ hôm nay cần chủ động tìm hiểu, gìn giữ và phát huy vốn văn hoá dân tộc – đó là trách nhiệm đồng thời cũng là niềm tự hào.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện