Soạn bài: Thực hành đọc: Vọng nguyệt + Cảnh khuya – Ngữ văn 12

Câu 1: Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác của từng bài thơ và sự chi phối của hoàn cảnh đó đến cấu tứ và nội dung trữ tình ở mỗi bài

a) Bài Vọng nguyệt (Ngắm trăng)

Hoàn cảnh sáng tác:

  • Bài thơ số 20 trong tập Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù).
  • Sáng tác khoảng 1942-1943, khi Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm ở Trung Quốc.
  • Trong hoàn cảnh tù đày, thiếu thốn: không rượu, không hoa, không tự do.

Sự chi phối đến cấu tứ:

  • Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán, cấu trúc cô đọng, hàm súc.
  • Hai câu đầu: giới thiệu cảnh ngộ đặc biệt trong tù (“Trong tù không có rượu, cũng không có hoa”) và nỗi băn khoăn của người tù trước đêm trăng đẹp.
  • Hai câu sau: miêu tả sự giao hoà giữa ngườitrăng qua song sắt nhà tù – nhân hướng ra ngắm nguyệt, nguyệt cũng hướng vào ngắm nhà thơ.

Sự chi phối đến nội dung trữ tình:

  • Vượt lên hoàn cảnh tù đày, người tù vẫn có tâm hồn nghệ sĩ, biết rung động trước cái đẹp.
  • Thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết, đặc biệt là tình yêu trăng.
  • Bộc lộ khát vọng tự dobản lĩnh phi thường của người chiến sĩ cách mạng – song sắt nhà tù không thể ngăn cách tâm hồn với thiên nhiên.
b) Bài Cảnh khuya

Hoàn cảnh sáng tác:

  • Sáng tác năm 1947, tại chiến khu Việt Bắc.
  • Đây là những năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – hoàn cảnh gian khổ, khó khăn.

Sự chi phối đến cấu tứ:

  • Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng tiếng Việt, ngôn ngữ giản dị, gần gũi.
  • Hai câu đầu: miêu tả cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc đêm khuya thơ mộng (tiếng suối, trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa).
  • Hai câu sau: thể hiện tâm trạng thao thức của Bác – “chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

Sự chi phối đến nội dung trữ tình:

  • Hoà quyện giữa tâm hồn nghệ sĩ rung động trước cảnh đẹp và trách nhiệm chiến sĩ trăn trở với vận mệnh đất nước.
  • Thể hiện tình yêu thiên nhiêntình yêu nước sâu sắc.
  • Toát lên phong thái ung dung, lạc quan giữa hoàn cảnh kháng chiến gian khổ.

Câu 2: Phát hiện được các đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ trữ tình của Hồ Chí Minh thể hiện qua hai bài thơ

a) Sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại
  • Cổ điển:
    • Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
    • Thi liệu quen thuộc trong thơ cổ: trăng, hoa, rượu, tiếng suối, cổ thụ.
    • Bút pháp chấm phá, tạo hình cô đọng.
    • Phong thái ung dung, tự tại của bậc hiền triết phương Đông.
  • Hiện đại:
    • Chất “thép” – tâm hồn chiến sĩ cách mạng: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
    • Tinh thần lạc quan cách mạng ngay giữa hoàn cảnh tù đày, gian khổ.
    • Trung tâm bức tranh không phải chỉ là thiên nhiên mà còn là con người hành động.
b) Tình yêu thiên nhiên tha thiết, đặc biệt với trăng
  • Cả hai bài thơ đều lấy trăng làm hình ảnh trung tâm.
  • Trăng hiện lên như một người bạn tri âm giao hoà với thi nhân (“Nguyệt tòng song khích khán thi gia” – trăng theo song cửa vào ngắm nhà thơ).
c) Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh
  • Chỉ với 4 câu ngắn, mỗi bài thơ vẽ ra một bức tranh hoàn chỉnh vừa gợi cảnh vừa gợi tình.
  • Sử dụng phép đối, điệp hiệu quả: “Nhân hướng song tiền… Nguyệt tòng song khích…”; “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”; “Chưa ngủ – chưa ngủ”.
d) Sự thống nhất giữa chất nghệ sĩ và chất chiến sĩ
  • Thi nhân trong thơ Bác không chỉ ngắm trăng mà còn mang trọng trách với đất nước.
  • Chất trữ tình và chất thép hoà quyện tự nhiên, làm nên nét riêng độc đáo.

Câu 3: Nhận ra được vẻ đẹp tư tưởng, tâm hồn và tài năng văn chương của người viết thể hiện qua các bài thơ

a) Vẻ đẹp tư tưởng
  • Lòng yêu nước, thương dân sâu sắc:
    • Trong Cảnh khuya: dù giữa cảnh đẹp đêm khuya, Bác vẫn “chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” – đặt vận mệnh đất nước lên trên tất cả.
    • Trong Vọng nguyệt: dù bị giam cầm, tâm hồn Bác vẫn hướng về tự do, về nhân dân.
  • Tinh thần lạc quan cách mạng:
    • Trong hoàn cảnh tù đày (Vọng nguyệt) hay giữa kháng chiến gian khổ (Cảnh khuya), Bác vẫn giữ niềm tin vào tương lai.
  • Bản lĩnh phi thường:
    • Không hoàn cảnh nào có thể giam cầm được tâm hồn tự do của Người.
b) Vẻ đẹp tâm hồn
  • Tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, nhạy cảm:
    • Trước đêm trăng đẹp, dù trong tù, Bác vẫn rung độngtrăn trở: “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?” (Trước đêm trăng đẹp này, biết phải làm thế nào?).
    • Trong đêm rừng Việt Bắc, Bác cảm nhận được cả tiếng suối như tiếng hát và vẻ đẹp “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”.
  • Tình yêu thiên nhiên chân thành:
    • Thiên nhiên (đặc biệt là trăng) trở thành người bạn tri kỉ của Bác.
  • Tâm hồn chiến sĩ – nghệ sĩ hoà quyện:
    • Vừa rung động trước cái đẹp, vừa đau đáu với vận mệnh dân tộc.
c) Tài năng văn chương
  • Làm chủ nhiều ngôn ngữ và thể loại:
    • Vọng nguyệt: chữ Hán, thất ngôn tứ tuyệt cổ điển.
    • Cảnh khuya: tiếng Việt, thất ngôn tứ tuyệt với ngôn ngữ gần gũi, giản dị.
  • Nghệ thuật cô đọng, hàm súc:
    • Chỉ với 4 câu ngắn, mỗi bài thơ đều tạo nên một bức tranh trọn vẹn về cảnh và tình.
  • Bút pháp chấm phá, giàu tính hội hoạ:
    • “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” – một câu thơ vẽ ra cảnh đa tầng lớp, giàu sắc thái.
  • Sử dụng biện pháp tu từ hiệu quả:
    • Phép đối (“Nhân hướng song tiền… Nguyệt tòng song khích…”).
    • So sánh (“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”).
    • Điệp từ (“Trăng lồng… bóng lồng…”, “Chưa ngủ… chưa ngủ…”).
  • Sáng tạo trong khuôn khổ cổ điển:
    • Vẫn giữ thể thơ Đường luật truyền thống nhưng đưa vào đó tinh thần thời đại mới – tinh thần cách mạng.

-> Hai bài thơ khẳng định Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn với phong cách nghệ thuật độc đáo – vừa cổ điển mà hiện đại, vừa mang tầm vóc thời đại vừa giàu cảm xúc riêng tư.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện