Giải SGK Tiếng Việt 4: Bài 4: Viết đoạn văn nêu ý kiến – Tuần 2

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Hướng dẫn cách viết

1. Nhắc lại kiến thức đã học

Ở các bài trước, em đã biết:

  • Đoạn văn nêu ý kiến là đoạn văn trình bày rõ mình thích (hoặc không thích) một câu chuyện và nêu lí do.
  • Đoạn văn có bố cục 3 phần: mở đầu, triển khai, kết thúc.

(Em có thể xem lại cách tìm ý cho đoạn văn nêu ý kiến tại bài trước: Bài 3: Tìm ý cho đoạn văn nêu ý kiến.)

2. Cách viết đoạn văn nêu ý kiến

  • Cách mở đoạn: Chọn cách giới thiệu gây chú ý, nêu nhận xét, đánh giá chung về câu chuyện (ví dụ: “Trong số những câu chuyện em đã đọc, em yêu thích nhất là…”).
  • Cách trình bày lí do: Nêu các lí do yêu thích rõ ràng, mỗi lí do đều có dẫn chứng minh hoạ cụ thể lấy từ câu chuyện.
  • Cách kết đoạn: Khẳng định lại ý kiến, có thể nêu bài học hoặc cảm xúc của em về câu chuyện.

3. Lưu ý khi viết

  • Các câu trong đoạn văn viết liên tục, không xuống dòng.
  • Câu đầu tiên viết lùi vào đầu dòng.
  • Dùng từ rõ ràng, dễ hiểu, thể hiện được cảm xúc thật của mình.

II. Giải các bài tập SGK

Đề bài: Viết đoạn văn nêu lí do yêu thích một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe.

Bài 1: Dựa vào các ý đã tìm trong hoạt động Viết ở Bài 3, viết đoạn văn nêu lí do yêu thích một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe.

Đề 1: Câu chuyện về tình cảm gia đình

Bài văn mẫu – Câu chuyện “Bà cháu” của Trần Hoài Dương:

Trong số những câu chuyện mà em đã được nghe mẹ kể, câu chuyện “Bà cháu” của nhà văn Trần Hoài Dương là câu chuyện em yêu thích nhất. Điều đầu tiên khiến em say mê là xứ sở thần tiên trong câu chuyện, nơi có cây đào lấp lánh trái vàng, trái bạc và cô tiên với những phép nhiệm màu. Nhưng cảm động hơn cả là cuộc sống nghèo khổ mà đầm ấm của ba bà cháu. Em đặc biệt yêu quý hai đứa cháu vì các bạn thật hiếu thảo, sẵn sàng từ bỏ vàng bạc, châu báu để xin cô tiên hoá phép cho bà sống lại. Cái kết của câu chuyện thật ấm áp khi bà hiện ra hiền từ, dang tay ôm hai đứa cháu vào lòng. Câu chuyện “Bà cháu” đã để lại trong em bài học sâu sắc về tình yêu thương gia đình – thứ tình cảm quý giá không gì có thể sánh được.

Đề 2: Câu chuyện về các con vật

Bài văn mẫu – Câu chuyện “Rùa và Thỏ”:

Trong kho tàng truyện ngụ ngôn, em yêu thích nhất là câu chuyện “Rùa và Thỏ”. Câu chuyện có một tình huống thật thú vị: Rùa chậm chạp lại dám thách đấu chạy đua với Thỏ nhanh nhẹn. Điều em thích nhất là nhân vật Rùa. Tuy chậm chạp, Rùa vẫn kiên trì bước từng bước, không hề bỏ cuộc dù biết mình chậm hơn Thỏ rất nhiều. Trong khi đó, Thỏ vì chủ quan, cậy mình chạy nhanh nên đã lăn ra ngủ giữa đường – chi tiết này thật hài hước và đáng nhớ. Kết quả, Rùa đã về đích trước, chiến thắng Thỏ một cách bất ngờ. Câu chuyện “Rùa và Thỏ” đã dạy em bài học quý giá: kiên trì, chăm chỉ sẽ chiến thắng sự chủ quan, kiêu ngạo.

Bài 2: Đọc soát và chỉnh sửa bài viết.

Sau khi viết xong, em cần đọc lại và chỉnh sửa theo 5 tiêu chí sau:

Tiêu chí Nội dung cần kiểm tra
Cách mở đoạn Câu mở đoạn đã giới thiệu tên câu chuyện, tên tác giả (nếu có) và nêu cảm nhận chung chưa? Cách mở đoạn có gây chú ý không?
Cách trình bày lí do Các lí do đã rõ ràng, thuyết phục chưa? Mỗi lí do đã có dẫn chứng cụ thể lấy từ câu chuyện chưa?
Cách kết thúc Câu kết đã khẳng định lại ý kiến hoặc nêu được bài học, cảm xúc của em chưa?
Cách dùng từ, đặt câu Từ ngữ đã rõ ràng, dễ hiểu, không lặp lại nhiều lần chưa? Câu văn có đủ ýđúng ngữ pháp không?
Cách thức trình bày đoạn văn Các câu trong đoạn đã viết liên tục, không xuống dòng chưa? Câu đầu tiên đã viết lùi vào đầu dòng chưa?

Ví dụ áp dụng cho bài văn mẫu Đề 1 (“Bà cháu”):

  • Mở đoạn: Đã giới thiệu tên câu chuyện “Bà cháu” và tên tác giả Trần Hoài Dương, nêu rõ đây là câu chuyện em yêu thích nhất.
  • Trình bày lí do:4 lí do rõ ràng (xứ sở thần tiên, cuộc sống ba bà cháu, sự hiếu thảo của hai cháu, cái kết ấm áp), mỗi lí do đều có dẫn chứng cụ thể.
  • Kết thúc: Đã khẳng định lại cảm xúc và nêu được bài học về tình yêu thương gia đình.
  • Dùng từ, đặt câu: Từ ngữ dễ hiểu, câu văn rõ ràng.
  • Trình bày: Các câu viết liên tục, không xuống dòng, câu đầu lùi vào đầu dòng.
Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình