Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
A. Đọc
I. Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi
Bài đọc: Con chim chiền chiện (Trích) – Huy Cận
Câu 1: Những từ ngữ nào cho thấy chim chiền chiện bay lượn giữa không gian cao rộng?
Những từ ngữ cho thấy chim chiền chiện bay lượn giữa không gian cao rộng:
- Bay vút, vút cao
- Cánh đập trời xanh
- Cao hoài, cao vợi
- Chim bay, chim sà
- Bay cao, cao vút
- Chim biến mất rồi
- Làm xanh da trời
Câu 2: Tiếng hót của chim chiền chiện được miêu tả qua những câu thơ nào? Nêu cảm nghĩ của em về tiếng chim chiền chiện trong bài thơ.
Tiếng hót của chim chiền chiện được miêu tả qua các câu thơ:
- Khúc hát ngọt ngào.
- Tiếng hót long lanh / Như cành sương chói.
- Đồng quê chan chứa / Những lời chim ca.
- Tiếng ngọc trong veo / Chim gieo từng chuỗi.
- Lòng chim vui nhiều / Hót không biết mỏi.
- Chỉ còn tiếng hót / Làm xanh da trời…
Cảm nghĩ của em: Tiếng chim chiền chiện thật trong trẻo, ngọt ngào và đầy sức sống. Tiếng hót ấy được tác giả ví như những viên ngọc trong veo, cành sương chói – gợi lên vẻ đẹp lung linh, tươi vui. Em cảm thấy tiếng chim chiền chiện đem lại niềm vui, sự bình yên và làm cho bầu trời, cánh đồng quê hương thêm rộn ràng, tươi đẹp.
II. Đọc hiểu
Bài đọc: Trai ngọc và hải quỳ – Theo Vân Long
Câu 1: Cá mực mang gì đi học?
Đáp án đúng: C. Mang một cái lọ mực.
Câu 2: Khi gặp cô trai, vì sao cá mực lễ phép trả lời rồi vội vã bơi đi?
Đáp án đúng: B. Vì cá mực hơi sợ khi nhìn thấy vỏ ngoài của cô trai.
Câu 3: Vì sao cá mực muốn đến gần hải quỳ?
Đáp án đúng: B. Vì hải quỳ đẹp, những cánh tay hoa mềm mại như gọi chào.
Câu 4: Cô trai đã làm gì khi thấy cá mực và cá cơm bơi đến gần hải quỳ?
Khi thấy cá mực và cá cơm bơi đến gần hải quỳ, cô trai đã:
- Gọi giật cá mực lại và cảnh báo: “Bé mực, không được đến gần nó, nguy hiểm đấy!”
- Lớn tiếng gọi cá cơm nhưng không kịp – cá cơm đã bị hải quỳ bắt.
- Sau đó, cô trai căn dặn cá mực: “Bông hoa đẹp đẽ thế kia nhưng rất dữ. Đó là hải quỳ. Cháu phải tránh xa.”
Câu 5: Cá mực đã hiểu ra điều gì về cô trai và hải quỳ?
Cá mực đã hiểu ra:
- Cô trai: tuy có vỏ ngoài sần sùi, xấu xí nhưng bên trong lại có một tấm lòng tốt đẹp như viên ngọc quý – luôn quan tâm, bảo vệ cá mực.
- Hải quỳ: tuy có vẻ ngoài đẹp đẽ, nhiều màu sắc, mềm mại như gọi chào nhưng thực chất lại rất nguy hiểm, dữ tợn.
→ Cá mực nhận ra: “Cái đẹp bên ngoài chưa hẳn là cái tốt, cái xấu bên ngoài chưa hẳn là cái xấu.”
Câu 6: Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện này?
Bài học em rút ra được từ câu chuyện:
- Không nên đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài.
- Cần nhìn nhận con người qua tấm lòng, hành động và tính cách bên trong.
- Phải biết cảnh giác với những thứ có vẻ ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong có thể nguy hiểm.
- Biết trân trọng những người tốt bụng, dù họ có vẻ ngoài giản dị, không nổi bật.
Câu 7: Tìm từ có nghĩa giống với mỗi từ dưới đây và đặt câu với một từ tìm được.
| Từ đã cho | Từ có nghĩa giống |
|---|---|
| vội vã | hối hả, gấp gáp, khẩn trương |
| mừng rỡ | vui mừng, hớn hở, hân hoan |
| sợ hãi | sợ sệt, hoảng sợ, kinh hãi |
| cảm động | xúc động, xao xuyến |
Đặt câu với từ tìm được:
Buổi sáng, các bạn học sinh hối hả đến trường cho kịp giờ vào lớp.
Câu 8: Tìm động từ chỉ tình cảm, cảm xúc trong mỗi câu dưới đây.
- Cá mực sợ hãi, chạy lại gần cô trai. → Động từ: sợ hãi.
- Cá mực kinh ngạc khi thấy trong lòng cô trai có một viên ngọc sáng đẹp lạ thường. → Động từ: kinh ngạc.
- Cá mực cảm động. → Động từ: cảm động.
B. Viết
Đề bài (chọn 1 trong 2 đề):
- Đề 1: Viết bài văn thuật lại một giờ học đáng nhớ đối với em.
- Đề 2: Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe về trí thông minh hoặc khả năng tìm tòi, sáng tạo của con người.
Đề 1: Viết bài văn thuật lại một giờ học đáng nhớ đối với em.
Bài văn mẫu tham khảo:
Trong suốt năm học vừa qua, giờ học Mĩ thuật hôm ấy đã để lại trong em nhiều kỉ niệm đáng nhớ.
Sáng thứ Ba tuần trước, cô giáo bước vào lớp với một nụ cười rạng rỡ. Cô giới thiệu với chúng em chủ đề vẽ của tiết học hôm nay là “Mái ấm gia đình em”. Cô ân cần hướng dẫn cả lớp cách chọn màu, cách bố cục bức tranh và khích lệ chúng em vẽ theo cảm xúc thật của mình.
Sau lời hướng dẫn, cả lớp bắt tay vào vẽ. Em cẩn thận vẽ ngôi nhà nhỏ có bố, mẹ, chị và em đang cùng ăn cơm bên bàn tròn. Em tô những màu sắc tươi tắn cho ngôi nhà và cả cây khế trước sân. Bên cạnh em, bạn Minh vẽ cảnh cả nhà đi chơi công viên. Bạn Lan vẽ mẹ đang ôm em bé. Ai cũng chăm chú và say sưa với bức tranh của mình.
Gần cuối giờ, cô đi quanh lớp xem tranh và khen ngợi cả lớp. Đặc biệt, cô đã chọn bức tranh của em làm bức tranh đẹp nhất tuần. Em cảm thấy vui sướng và tự hào vô cùng.
Giờ học Mĩ thuật hôm đó đã cho em cảm nhận sâu sắc hơn về tình cảm gia đình và giúp em thêm yêu môn học này. Đó thực sự là một giờ học đáng nhớ đối với em.
Đề 2: Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe về trí thông minh hoặc khả năng tìm tòi, sáng tạo của con người.
Bài văn mẫu tham khảo:
Trong kho tàng truyện về các nhân vật thông minh của nước ta, em ấn tượng nhất với câu chuyện “Lương Thế Vinh cân voi”. Đây là câu chuyện mà bà nội đã kể cho em nghe từ khi em còn nhỏ.
Chuyện kể rằng, thời xưa, có một sứ thần Trung Quốc sang nước ta. Vì muốn thử tài các quan trong triều, ông đã đưa ra một câu đố hóc búa: làm sao cân được một con voi khổng lồ? Cả triều đình lo lắng vì thời ấy chưa có chiếc cân nào đủ lớn để cân voi.
Lúc đó, Trạng nguyên Lương Thế Vinh liền đứng ra nhận nhiệm vụ. Ông sai người dắt voi xuống một chiếc thuyền lớn đậu bên sông. Khi voi bước lên thuyền, thuyền chìm xuống một mực nước nhất định. Ông cho đánh dấu mực nước ấy trên thành thuyền. Sau đó, ông dắt voi lên bờ và cho khiêng đá chất dần lên thuyền cho đến khi thuyền chìm đúng mực nước đã đánh dấu. Cuối cùng, ông chỉ cần cân số đá trên thuyền là biết được cân nặng của con voi.
Sứ thần Trung Quốc thấy vậy vô cùng khâm phục trí thông minh của Trạng nguyên Lương Thế Vinh. Từ đó, ông được người đời ca ngợi là “Trạng Lường”.
Câu chuyện đã giúp em hiểu rằng: trí thông minh và sự sáng tạo có thể giúp con người giải quyết được cả những việc tưởng chừng không thể. Em rất khâm phục Trạng nguyên Lương Thế Vinh và mong sau này mình cũng sẽ học tập chăm chỉ, biết suy nghĩ sáng tạo như ông.

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình
