Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Nội dung tóm tắt bài đọc
Bài đọc Tập làm văn (theo Trần Quốc Toàn) kể về hành trình làm bài văn “Tả cây hoa nhà em” của một bạn nhỏ. Cuối tuần, bạn nhỏ được ba cho về quê để tìm ý cho bài văn. Trên đò, bạn đã viết được mở bài nhưng khi tới nơi thì trời sập tối, các bụi hoa hồng, dạ lí, mẫu đơn trông giống nhau nên bạn đành để dở dang. Sáng hôm sau, bạn dậy sớm ra vườn quan sát cây hoa hồng – nhờ đó bạn tả được thân, cành, lá cùng những giọt sương như hòn bi ve trên hoa. Khi loay hoay nhặt vở, bạn nhỏ bị gai hồng cào vào tay, thế là phát hiện cây hồng có gai và viết được một đoạn thú vị về gai hồng. Cuối cùng, khi đi tưới cây, bạn nhỏ hình dung cái bình tưới như chú voi con đung đưa vòi rắc mưa xuống cây hoa để hoàn thành đoạn kết. Bài đọc cho em thấy: để viết văn miêu tả hay, cần biết quan sát tỉ mỉ, kết hợp trí tưởng tượng và trải nghiệm thực tế với sự vật mình muốn tả.

II. Giải các câu hỏi SGK
Câu hỏi khởi động: Trao đổi với bạn: Khi muốn miêu tả một sự vật, làm thế nào để tả đúng đặc điểm của sự vật đó?
Khi muốn miêu tả một sự vật, để tả đúng đặc điểm của sự vật đó, em cần:
- Quan sát kĩ sự vật bằng nhiều giác quan: mắt nhìn (màu sắc, hình dáng), tay sờ (mềm, cứng, nhám, mịn), mũi ngửi (hương thơm), tai nghe (âm thanh),…
- Chú ý đến những đặc điểm nổi bật, riêng biệt của sự vật.
- Kết hợp quan sát với trí tưởng tượng và sử dụng các hình ảnh so sánh để lời văn thêm sinh động.
- Quan sát ở nhiều thời điểm khác nhau (sáng, trưa, chiều) để thấy được sự thay đổi của sự vật.
Câu 1: Mục đích về quê của bạn nhỏ là gì?
Mục đích về quê của bạn nhỏ là để tìm ý cho bài văn “Tả cây hoa nhà em” mà thầy cô giao.
Câu 2: Khi ở quê, bạn nhỏ đã làm gì để tả được cây hoa theo yêu cầu?
Khi ở quê, bạn nhỏ đã làm những việc sau để tả được cây hoa hồng:
- Ra vườn quan sát cây hoa hồng vào sáng sớm, khi trời còn mù sương.
- Đọc các câu hỏi gợi ý trong sách để có ý viết bài.
- Khi bị gai hồng cào vào tay, bạn nhỏ phát hiện ra cây hồng còn có gai – một chi tiết đặc biệt để đưa vào bài văn.
- Múc nước tưới cây – việc làm này giúp bạn tìm được ý cho đoạn kết.
Câu 3: Những câu văn nào là kết quả của sự quan sát kết hợp với trí tưởng tượng phong phú của bạn nhỏ?
Những câu văn thể hiện sự quan sát kết hợp với trí tưởng tượng phong phú của bạn nhỏ là:
- “Thân cây hoa to bằng ngón tay cái. Cành hoa nhỏ như ngón tay út, xoè ra nhiều lá hình trái tim viền răng cưa. Sương như những hòn bi ve tí xíu tụt từ lá xanh xuống bông đỏ, đi tìm mùi thơm ngào ngạt núp đâu giữa những cánh hoa…”
- “Hồng không phải mít mà cũng có gai. Gai hồng không nhể được ốc luộc như gai bưởi. Gai hồng giữ cho bông hồng thả sức đẹp…”
- “Từ tay tôi, cái bình tưới như chú voi con dễ thương đung đưa vòi, rắc lên cây hoa hồng một cơn mưa rào nhỏ.”
Câu 4: Em thích câu văn nào nhất trong bài văn của bạn nhỏ? Theo em, bài văn của bạn nên viết thêm những ý nào?
Câu văn em thích nhất:
“Sương như những hòn bi ve tí xíu tụt từ lá xanh xuống bông đỏ, đi tìm mùi thơm ngào ngạt núp đâu giữa những cánh hoa…”
Em thích câu văn này vì hình ảnh “sương như những hòn bi ve tí xíu” rất ngộ nghĩnh, đáng yêu. Câu văn còn cho ta cảm giác như những giọt sương đang “đi tìm” mùi thơm – vừa sinh động, vừa thú vị.
Bài văn của bạn nhỏ nên viết thêm những ý:
- Miêu tả màu sắc và hương thơm của những bông hoa hồng.
- Miêu tả cây hoa hồng vào các thời điểm khác nhau trong ngày (nắng lên, buổi trưa, chiều tối).
- Cảm xúc, kỉ niệm của bạn nhỏ với cây hoa hồng của bà ngoại.
Câu 5: Em học được điều gì về cách viết văn miêu tả sau khi đọc câu chuyện trên?
Sau khi đọc câu chuyện, em học được cách viết văn miêu tả:
- Phải biết quan sát kĩ sự vật muốn tả bằng nhiều giác quan (mắt, tai, mũi, tay).
- Cần kết hợp quan sát với trí tưởng tượng để lời văn thêm sinh động.
- Nên sử dụng hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi (ví dụ: cành hoa nhỏ như ngón tay út, sương như hòn bi ve,…).
- Trải nghiệm thực tế với sự vật (chăm sóc, chạm vào, ngắm nhìn ở nhiều thời điểm,…) sẽ giúp bài văn chân thật và hay hơn.
- Bài văn cần có đủ 3 phần: mở bài – thân bài – kết bài.

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình
