Giải SGK Tiếng Việt 4: Bài 17: Cây đa quê hương – Tuần 28

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Nội dung tóm tắt bài đọc

Bài đọc Cây đa quê hương (theo Nguyễn Khắc Viện) là dòng hồi tưởng của tác giả về hình ảnh cây đa trước xóm – hình ảnh đậm nét nhất trong kí ức về làng quê. Cây đa không có tên chính thức, chỉ mang cái tên thân thuộccây đa quê hương. Đó là một cây đa nghìn năm to lớn, cổ kính như một toà cổ kính hơn là một thân cây: chín, mười đứa bé ôm không xuể, cành lớn hơn cột đình, ngọn chót vót giữa trời xanh, rễ nổi lên mặt đất thành những hình thù quái lạ như rắn hổ mang giận dữ, còn vòm lá thì mỗi khi gió chiều thổi qua lại gảy lên những điệu nhạc li kì. Cây đa gắn liền với tuổi thơ của tác giả và bạn bè: chiều chiều cùng nhau ra ngồi gốc đa hóng mát, ngắm lúa vàng gợn sóng, nghe ễnh ương ộp oạp, nhìn đàn trâu lững thững trở về giữa cánh đồng yên lặng. Bài đọc thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và nỗi nhớ sâu đậm của tác giả dành cho hình ảnh cây đa – biểu tượng bình dị mà thiêng liêng của làng quê Việt Nam.

Bài 17: Cây đa quê hương

II. Giải các câu hỏi SGK

Câu hỏi khởi động: Nói 2 – 3 câu giới thiệu về quê hương em hoặc nơi em sinh sống. Cảnh vật nào ở đó khiến em nhớ nhất? Vì sao?

Trả lời:

Em xin giới thiệu về quê hương của em:

  • Quê hương em ở một vùng nông thôn yên bình, có cánh đồng lúa xanh mướt trải dài và dòng sông nhỏ hiền hoà chảy quanh làng.
  • Cảnh vật khiến em nhớ nhấtluỹ tre xanh đầu làng (hoặc cánh đồng lúa, dòng sông, cây đa, giếng nước…).
  • Em nhớ nhất cảnh ấy vì đó là nơi em cùng bạn bè vui chơi, thả diều, hóng mát mỗi buổi chiều và gắn với nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi thơ.

Câu 1: Nghĩ về quê hương, tác giả nhớ nhất hình ảnh nào?

Trả lời:

Nghĩ về quê hương, tác giả nhớ nhất hình ảnh cây đa trước xómcây đa quê hương. Đây là hình ảnh đậm nét nhất trong kí ức của tác giả về làng quê mình.

Câu 2: Cây đa quê hương được tả như thế nào?

Trả lời:

Cây đa quê hương được tả với những đặc điểm sau:

  • Thân cây: to lớn như một toà cổ kính, chín, mười đứa bé bắt tay nhau ôm không xuể.
  • Cành cây: lớn hơn cột đình.
  • Ngọn cây: chót vót giữa trời xanh, đến những con quạ đậu trên cao nhìn cũng chẳng rõ.
  • Rễ cây: nổi lên mặt đất thành những ụ, có những hình thù quái lạ như những con rắn hổ mang giận dữ.
  • Vòm lá: khi gió chiều thổi qua thì gảy lên những điệu nhạc li kì, có khi tưởng chừng như ai cười ai nói trong cành, trong lá.

Câu 3: Vì sao tác giả gọi cây đa quê mình là cây đa nghìn năm?

Trả lời:

Tác giả gọi cây đa quê mình là cây đa nghìn năm vì:

  • Cây đa rất to lớncổ kính, giống như một toà cổ kính hơn là một thân cây.
  • Cây có tuổi đời rất lâu, đã gắn bó lâu đời với làng quê và với biết bao thế hệ người dân nơi đây.
  • Cách gọi này thể hiện sự kính trọngtình cảm gắn bó của tác giả đối với cây đa quê hương.

Câu 4: Cây đa quê hương đã gắn bó với tuổi thơ của tác giả như thế nào?

Trả lời:

Cây đa quê hương đã gắn bó với tuổi thơ của tác giả:

  • Cây đa gắn liền với thời thơ ấu của tác giả và các bạn.
  • Chiều chiều, tác giả cùng bạn bè ra ngồi gốc đa hóng mát.
  • Dưới gốc đa, các bạn nhỏ được ngắm cảnh làng quê thanh bình: lúa vàng gợn sóng, nghe tiếng ễnh ương ộp oạp, nhìn đàn trâu lững thững trở về giữa cánh đồng.
  • Cây đa trở thành người bạn thân thiết, lưu giữ bao kỉ niệm đẹp của tuổi thơ tác giả.

Câu 5: Những chi tiết, hình ảnh nào trong bài gây ấn tượng đối với em? Vì sao?

Trả lời:

Những chi tiết, hình ảnh trong bài gây ấn tượng với em là:

  • Hình ảnh cây đa to lớn: “Chín, mười đứa bé chúng tôi bắt tay nhau ôm không xuể” – vì chi tiết này cho thấy cây đa to lớncổ kính đến kinh ngạc.
  • Hình ảnh rễ cây: “Rễ cây nổi lên mặt đất thành những ụ, những hình thù quái lạ như những con rắn hổ mang giận dữ” – vì hình ảnh so sánh rất sinh động, giúp em dễ hình dung.
  • Hình ảnh đàn trâu về chiều: “Đàn trâu bắt đầu ra về, lững thững từng bước nặng nề, nhịp nhàng” – vì hình ảnh này gợi lên cảnh làng quê vô cùng yên bìnhthân thương.

Những chi tiết ấy giúp em cảm nhận được vẻ đẹp của cây đa quê hương và tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả.

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình