Giải SGK Tiếng Việt 4: Bài 15: Viết bài văn kể lại một câu chuyện – Tuần 8

(Bài này tiếp nối phần lập dàn ý ở bài trước. Em có thể xem lại 3 dàn ý mẫu tại: Bài 14: Lập dàn ý cho bài văn kể lại một câu chuyện.)

I. Giải các bài tập SGK

Đề bài: Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe.

Bài 1: Dựa vào dàn ý đã lập trong hoạt động Viết ở Bài 14, viết bài văn theo yêu cầu của đề bài.

Dưới đây là 3 bài văn mẫu tương ứng với 3 dàn ý ở Bài 14 để em tham khảo.

Bài văn mẫu 1: Kể lại câu chuyện Cây tre trăm đốt

Từ nhỏ, em đã rất yêu thích những câu chuyện cổ tích Việt Nam. Trong số đó, câu chuyện để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong em là “Cây tre trăm đốt” – một câu chuyện dạy em bài học về sự thật thà và chăm chỉ.

Chuyện kể rằng, ngày xưa, có một anh nông dân nghèo khổ nhưng rất chăm chỉ đến làm thuê cho nhà một phú ông. Thấy anh khoẻ mạnh, siêng năng, phú ông hứa sẽ gả con gái cho anh sau ba năm làm thuê. Anh nông dân tin lời, ra sức làm việc.

Ba năm sau, đến hạn, phú ông trở mặt. Ông ta muốn gả con gái cho một nhà giàu khác nên đã nghĩ ra một điều kiện: anh nông dân phải tìm được cây tre trăm đốt thì mới được cưới con gái ông. Anh nông dân thật thà, tin lời phú ông nên vào rừng tìm cây tre. Anh tìm mãi, tìm mãi mà không thấy cây tre nào có đủ trăm đốt. Anh ngồi khóc nức nở.

Thế rồi, một ông Bụt hiện lên, hỏi anh vì sao khóc. Nghe anh kể, ông Bụt bảo anh hãy chặt đủ 100 đốt tre rồi dạy anh câu thần chú “Khắc nhập, khắc nhập!” để các đốt tre dính vào nhau và câu “Khắc xuất, khắc xuất!” để tách các đốt ra. Anh nông dân vui mừng cảm ơn ông Bụt rồi vác 100 đốt tre về nhà.

Khi về đến nhà, anh thấy phú ông đang tổ chức đám cưới con gái cho một chàng trai khác. Anh nông dân tức giận, đọc thần chú “Khắc nhập, khắc nhập!”. Ngay lập tức, phú ông và các quan khách bị trói chặt vào cây tre. Phú ông sợ hãi, van xin và hứa sẽ gả con gái cho anh. Anh nông dân đọc “Khắc xuất, khắc xuất!” để giải thoát cho mọi người. Từ đó, hai vợ chồng anh nông dân sống bên nhau hạnh phúc đến trọn đời.

Câu chuyện “Cây tre trăm đốt” đã để lại trong em nhiều bài học sâu sắc. Em học được rằng những người thật thà, chăm chỉ sẽ luôn được giúp đỡ và có cuộc sống hạnh phúc; còn kẻ tham lam, lật lọng cuối cùng sẽ bị trừng phạt. Em mong mình sẽ luôn sống tử tế và chăm chỉ như anh nông dân trong truyện.

Bài văn mẫu 2: Kể lại câu chuyện Con vẹt xanh

Con vẹt xanh” của nhà văn Lý Lan là một câu chuyện rất ý nghĩa mà em đã được học trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4.

Chuyện kể rằng, một hôm, trong vườn nhà Tú xuất hiện một con vẹt nhỏ bị thương ở cánh. Thương vẹt, Tú chăm sóc nó rất cẩn thận. Nghe anh trai bảo vẹt có thể bắt chước tiếng người nên Tú rất háo hức dạy vẹt nói. Mỗi khi đi học về, Tú chạy đến bên con vẹt, vừa cho ăn vừa nựng: “Vẹt à, dạ!”. Vẹt chỉ xù lông cổ, gù một cái mà chưa nói được tiếng nào.

Trong khi đó, mỗi lần anh trai gọi, Tú lại phụng phịu trả lời: “Cái gì?” rồi lẩm bẩm cằn nhằn “Kêu chi kêu hoài!”. Lần nào Tú cũng như thế với anh khi đang chơi với vẹt.

Vẹt mỗi ngày một lớn, lông xanh óng ả nhưng vẫn chưa nói được tiếng nào. Thế rồi một hôm, Tú gọi: “Vẹt à!” thì bất ngờ một giọng the thé đáp lại: “Cái gì?“. Trời ơi, con vẹt đã biết nói! Tú sướng quá, nhảy lên reo hò và khoe khắp nơi.

Hôm sau, mấy đứa bạn tới nhà. Tú hãnh diện gọi vẹt: “Vẹt à, dạ!” thì vẹt lại đáp “Cái gì?”. Các bạn cười ầm lên. Tú giả vờ nghiêm mặt trách vẹt: “Anh chăm sóc vẹt cực khổ, vậy mà anh gọi, vẹt trả lời ‘cái gì’ à? Kêu chi kêu hoài!”. Nhưng nói xong, Tú sửng sốt ngồi lặng thinh. Hoá ra vẹt đã bắt chước đúng những lời cộc lốc mà Tú thường nói với anh.

Bạn về rồi, Tú vẫn ngồi lặng như thế. Tú nhớ lại bao lần anh gọi, mình đã trả lời “Cái gì?” và cằn nhằn “Kêu chi kêu hoài”. Tú hối hận quá, chỉ mong anh gọi để Tú “dạ” một tiếng thật to, thật lễ phép. Con vẹt nhìn Tú, dường như cũng biết lỗi nên xù lông cổ, rụt đầu, gù một cái nghe như tiếng: “Dạ!“.

Câu chuyện “Con vẹt xanh” đã dạy em bài học sâu sắc về cách cư xử lễ phép với người thân trong gia đình. Em hiểu rằng phải luôn biết “dạ”, “vâng” khi được người lớn gọi và kính trọng anh chị của mình. Từ nay, em sẽ chú ý hơn trong lời ăn tiếng nói để không làm mọi người buồn lòng.

Bài văn mẫu 3: Kể lại câu chuyện Cậu bé Tích Chu

Trong những câu chuyện bà kể, em nhớ mãi một câu chuyện có nhân vật chính là một cậu bé rất đáng yêu nhưng cũng ham chơi. Đó là câu chuyện “Cậu bé Tích Chu” – câu chuyện đã dạy em bài học sâu sắc về tình yêu thương bà.

Ngày xưa, có một cậu bé tên là Tích Chu sống cùng bà. Bà rất thương yêu Tích Chu, đi làm về có thức ăn ngon bà đều để dành cho cậu. Ban đêm, khi Tích Chu ngủ, bà thức để quạt cho cậu.

Thế nhưng, Tích Chu lại ham chơi. Suốt ngày cậu chạy nhảy với các bạn ở đâu đâu, chẳng bao giờ quan tâm đến bà. Rồi một hôm, bà ốm nặng. Bà nằm trên giường, khát nước quá liền gọi: “Tích Chu ơi, cho bà ngụm nước. Bà khát khô cả cổ rồi!”. Bà gọi mãi mà Tích Chu vẫn mải chơi, không nghe thấy tiếng bà.

Khát quá, bà đã hoá thành một con chim bay đi tìm nước uống. Lúc Tích Chu chạy về nhà thì thấy bà không còn nữa, chỉ thấy một con chim đang vỗ cánh bay đi. Cậu hoảng hốt đuổi theo và khóc nức nở, van xin bà quay lại.

Thế rồi, một bà tiên hiện lên và bảo: “Nếu cháu muốn bà trở lại thành người thì phải đi lấy nước ở suối tiên cho bà uống. Đường lên suối tiên xa xôi và hiểm trở lắm đấy.”. Tích Chu không sợ, cậu quyết tâm đi tìm nước tiên cho bà. Cậu băng rừng, lội suối, vượt qua bao khó khăn để lấy được nước tiên đem về.

Bà uống nước tiên và trở lại thành người. Từ đó, Tích Chu hết lòng yêu thươngchăm sóc bà. Hai bà cháu lại sống hạnh phúc bên nhau.

Câu chuyện “Cậu bé Tích Chu” đã để lại trong em nhiều cảm xúc. Em thương bà của Tích Chu và cũng cảm động trước sự hối lỗi, quyết tâm sửa đổi của Tích Chu. Câu chuyện dạy em bài học quý giá: phải luôn biết yêu thương, chăm sócquan tâm đến ông bà, cha mẹ khi còn có thể. Em cũng sẽ luôn giúp đỡ ông bà, cha mẹ của mình để không bao giờ phải hối hận như Tích Chu.

Bài 2: Đọc soát và chỉnh sửa.

a. Đọc lại bài làm của em để phát hiện lỗi.

Sau khi viết xong, em cần đọc lại bài làm và kiểm tra 4 điểm sau:

  • Cách viết mở bài, kết bài:
    • Mở bài đã giới thiệu tên câu chuyện rõ ràng chưa?
    • Kết bài đã nêu cảm xúc, suy nghĩ hoặc bài học từ câu chuyện chưa?
  • Trình tự các sự việc được kể ở thân bài:
    • Đã kể đầy đủ các sự việc chính chưa?
    • Các sự việc được sắp xếp theo đúng trình tự thời gian chưa?
    • từ ngữ kết nối (thế rồi, không lâu sau, từ đó,…) giữa các sự việc chưa?
  • Cách dùng từ, đặt câu:
    • Từ ngữ đã dễ hiểu, phù hợp với câu chuyện chưa?
    • Câu văn có rõ ràng, trôi chảy không?
  • Chính tả:
    • Có sai lỗi chính tả nào không (dấu hỏi, dấu ngã, phụ âm đầu,…)?
    • Có viết hoa tên riêng, tên câu chuyện chưa?
b. Sửa lỗi (nếu có).
  • Nếu phát hiện thiếu sự việc, em bổ sung thêm cho đầy đủ.
  • Nếu các sự việc bị đảo lộn, em sắp xếp lại cho đúng trình tự.
  • Nếu dùng từ chưa hay hoặc câu chưa rõ, em sửa lại cho hay hơn.
  • Nếu sai chính tả, em viết lại cho đúng.

Vận dụng:

Kể cho người thân nghe những điều em biết về cuộc sống và việc đi học của các bạn học sinh vùng cao.

Bài mẫu tham khảo:

Mẹ ơi, hôm nay con muốn kể cho mẹ nghe những điều con biết về cuộc sống và việc đi học của các bạn học sinh vùng cao.

Về cuộc sống: Các bạn học sinh vùng cao sống ở những bản làng xa xôi, trên những vùng núi cao. Cuộc sống của các bạn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhiều bạn ở trong những ngôi nhà sàn nhỏ đơn sơ, mùa đông thì rất lạnh giá, có khi còn có tuyết rơi. Bữa cơm của các bạn thường chỉ có cơm với rau, ít khi có thịt cá. Nhiều bạn còn phải giúp bố mẹ đi rẫy, chăn trâu, cắt cỏ từ khi còn nhỏ.

Về việc đi học: Đường đến trường của các bạn rất xa xôivất vả. Có bạn phải đi bộ hàng giờ qua đèo dốc, băng qua suối để đến trường. Mùa mưa lũ, đường trơn trượt, nhiều bạn phải nghỉ học vì không thể qua suối. Có nơi, các bạn còn phải ở nội trú tại trường vì nhà quá xa. Dù khó khăn là vậy nhưng các bạn vẫn rất ham học, chăm chỉnghị lực.

Cảm nghĩ của con: Con thấy rất thươngcảm phục các bạn học sinh vùng cao mẹ ạ. So với các bạn, con thật may mắn khi được sống trong điều kiện đầy đủ, được đi học bằng phương tiện thuận tiện. Con hứa sẽ chăm chỉ học tập hơn nữa để không phụ lòng bố mẹ và cũng để trân trọng những gì mình đang có, mẹ nhé!

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình