Giải SGK Tiếng Việt 5: Bài 7: Luyện tập về câu ghép – Tuần 22

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

Ôn lại kiến thức về câu ghép:

1. Câu ghép là gì?

Câu ghép là câu gồm nhiều cụm chủ ngữ – vị ngữ ghép lại. Mỗi cụm chủ ngữ – vị ngữ trong câu ghép được gọi là một vế câu.

2. Các cách nối các vế trong câu ghép:

  • Cách 1: Nối bằng một kết từ (và, rồi, hoặc, còn, hay, nhưng, mà, song,…).
  • Cách 2: Nối trực tiếp bằng dấu câu (dấu phẩy, dấu chấm phẩy,…).
  • Cách 3: Nối bằng cặp từ, gồm:
    • Cặp kết từ: vì … nên …, nếu … thì …, tuy … nhưng …, mặc dù … nhưng …, chẳng những … mà …,…
    • Cặp từ hô ứng: vừa … đã …, chưa … đã …, càng … càng …, đâu … đó …, bao nhiêu … bấy nhiêu …,…

Ví dụ tổng hợp:

Câu ghép Cách nối
Trời / mưa đường / trơn trượt. Kết từ “và”
Gió / thổi mạnh, lá / rụng đầy sân. Dấu phẩy
trời / mưa nên đường / trơn trượt. Cặp kết từ “vì … nên …”
Trời / càng về chiều, gió / càng thổi mạnh. Cặp từ hô ứng “càng … càng …”

→ Xem lại chi tiết tại: Bài 5: Cách nối các vế câu ghép (Tiếp theo) – Tuần 21

II. Giải các câu hỏi SGK

Câu 1: Tìm câu ghép trong các đoạn văn dưới đây và cho biết các vế của mỗi câu ghép được nối với nhau bằng cách nào.

Đoạn a: (Tô Hoài)

⁽¹⁾ Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng, nhưng làng người Mông ở chơ vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông. ⁽²⁾ Vách và mái nhà đều ghép bằng những miếng gỗ pơ-mu, nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền với trời xanh. ⁽³⁾ Xung quanh nhà nào cũng sum sê những đào, những lê. ⁽⁴⁾ Giữa mùa đông, hoa lê trắng ngần. ⁽⁵⁾ Vào đầu xuân, hoa đào nở hồng cả trời.

Các câu ghép trong đoạn a:

Câu (1): Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng, nhưng làng người Mông ở chơ vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông.

  • Vế 1: Làng Tày, làng Dao (CN) / ven suối và trong rừng (VN).
  • Vế 2: làng người Mông (CN) / ở chơ vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông (VN).
  • Cách nối: dấu phẩy + kết từ “nhưng”.

Câu (2): Vách và mái nhà đều ghép bằng những miếng gỗ pơ-mu, nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền với trời xanh.

  • Vế 1: Vách và mái nhà (CN) / đều ghép bằng những miếng gỗ pơ-mu (VN).
  • Vế 2: nhà nhà (CN) / ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền với trời xanh (VN).
  • Cách nối: dấu phẩy (nối trực tiếp).

(Các câu (3), (4), (5) là câu đơn.)

Đoạn b: (Võ Quảng)

⁽¹⁾ Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. ⁽²⁾ Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run lên bần bật. ⁽³⁾ Mưa phùn lất phất… ⁽⁴⁾ Bên gốc đa, một chú thỏ bước ra, tay cầm một tấm vải dệt bằng rong. ⁽⁵⁾ Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút. ⁽⁶⁾ Thỏ đuổi theo. ⁽⁷⁾ Tấm vải tròng trành trên ao. ⁽⁸⁾ Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co chân lên. ⁽⁹⁾ Thỏ cố khều nhưng đưa chân không tới.

Các câu ghép trong đoạn b:

Câu (5): Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút.

  • Vế 1: Thỏ (CN) / tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét (VN).
  • Vế 2: tấm vải (CN) / bị gió lật tung, bay đi vun vút (VN).
  • Cách nối: dấu phẩy + kết từ “nhưng”.

Câu (8): Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co chân lên.

  • Vế 1: Thỏ (CN) / vừa đặt chân xuống nước (VN).
  • Vế 2: (Thỏ – lược CN) / đã vội co chân lên (VN).
  • Cách nối: cặp từ hô ứng “vừa … đã …”.

Câu (9): Thỏ cố khều nhưng đưa chân không tới.

  • Vế 1: Thỏ (CN) / cố khều (VN).
  • Vế 2: (Thỏ – lược CN) / đưa chân không tới (VN).
  • Cách nối: kết từ “nhưng”.

(Các câu (1), (2), (3), (4), (6), (7) là câu đơn.)

Câu 2: Tìm cặp kết từ hoặc cặp từ hô ứng thay cho bông hoa để tạo câu ghép.

a. ❀ em có một khu vườn rộng ❀ em sẽ trồng thật nhiều loại cây.

Nếu em có một khu vườn rộng thì em sẽ trồng thật nhiều loại cây. (cặp kết từ “nếu … thì …”)

b. ❀ thành phố này không sầm uất, hiện đại ❀ nó rất hấp dẫn du khách.

Tuy thành phố này không sầm uất, hiện đại nhưng nó rất hấp dẫn du khách. (cặp kết từ “tuy … nhưng …”)

c. Mọi người ❀ đối xử tốt với nhau thì cuộc sống ❀ tốt đẹp hơn.

→ Mọi người càng đối xử tốt với nhau thì cuộc sống càng tốt đẹp hơn. (cặp từ hô ứng “càng … càng …”)

Câu 3: Viết đoạn văn (3 – 5 câu) về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, trong đó có câu ghép chứa kết từ để nối các vế câu.

Đoạn văn tham khảo 1:

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận là một bức tranh tuyệt đẹp về biển cả và những người ngư dân. Khi mặt trời xuống biển như hòn lửa, đoàn thuyền lại ra khơi và câu hát của những người ngư dân căng buồm cùng gió. Trên biển đêm, đàn cá thu như đoàn thoi dệt biển muôn luồng sáng lấp lánh. Đọc bài thơ, em càng thêm yêu biển cả quê hương và trân trọng những người ngư dân chăm chỉ.

Câu ghép: Khi mặt trời xuống biển như hòn lửa, đoàn thuyền lại ra khơi câu hát của những người ngư dân căng buồm cùng gió.

  • Vế 1: đoàn thuyền (CN) / lại ra khơi (VN).
  • Vế 2: câu hát của những người ngư dân (CN) / căng buồm cùng gió (VN).
  • Nối bằng kết từ “và”.

Đoạn văn tham khảo 2:

Em rất yêu thích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận. Bài thơ khắc hoạ hình ảnh những người ngư dân hăng say lao động giữa biển khơi bao la. Vì các bác ngư dân làm việc rất chăm chỉ nên khi bình minh lên, đoàn thuyền trở về với những chùm cá nặng, vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông. Bài thơ giúp em thêm biết ơn và cảm phục những người lao động trên biển.

Câu ghép: Vì các bác ngư dân làm việc rất chăm chỉ nên khi bình minh lên, đoàn thuyền trở về với những chùm cá nặng, vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông.

  • Vế 1: các bác ngư dân (CN) / làm việc rất chăm chỉ (VN).
  • Vế 2: đoàn thuyền (CN) / trở về với những chùm cá nặng, vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông (VN).
  • Nối bằng cặp kết từ “vì … nên …”.
Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình