Giải SGK Tiếng Việt 5: Bài 21: Thế giới trong trang sách – Tuần 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Nội dung tóm tắt bài đọc

Bài thơ Thế giới trong trang sách của tác giả Huệ Triệu ca ngợi vẻ đẹp kì diệu và ý nghĩa lớn lao của những trang sách đối với tuổi thơ. Trang sách mở ra một thế giới diệu kì với bầu trời sao lấp lánh, mặt biển xanh, cánh buồm nâu trong nắng và cầu vồng bảy sắc sau cơn mưa. Sách còn giải đáp bao câu hỏi tuổi thơ về vũ trụ bao la, về trái đất rộng lớn hay về chú Cuội trên mặt trăng. Không chỉ vậy, sách còn thắp lên trong tâm hồn các em ngọn lửa khát khao, những ước mơ đẹp gắn với quê hương, xứ sở. Qua trang sách, các em còn học được bài học về nhân nghĩa – truyền thống tốt đẹp mà cha ông gìn giữ, nhắc nhở mỗi người luôn nhớ về cội nguồn.

II. Giải các câu hỏi SGK

Câu hỏi khởi động: Chia sẻ với bạn về một bài học bổ ích từ những trang sách em đã đọc.

Gợi ý: Em có thể chia sẻ về một bài học em đã học được từ sách, ví dụ:

  • Từ truyện Rùa và Thỏ, em học được bài học: phải kiên trì, chăm chỉ, không được chủ quan, kiêu ngạo.
  • Từ truyện Cây khế, em học được bài học: sống hiền lành, thật thà sẽ được đền đáp; tham lam sẽ nhận hậu quả xấu.
  • Từ truyện Dế Mèn phiêu lưu kí, em học được: phải biết yêu thương bạn bè, không nên kiêu căng, xốc nổi.

Câu 1: Thế giới diệu kì mà sách mang đến cho người đọc được thể hiện qua những hình ảnh nào?

Thế giới diệu kì mà sách mang đến được thể hiện qua các hình ảnh:

  • Bầu trời có những vì sao lấp lánh.
  • Mặt biển xanh với cánh buồm nâu trong nắng.
  • Cầu vồng bảy sắc hiện ra sau cơn mưa.

→ Đó là những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, rực rỡ, gợi lên một thế giới rộng lớn và kì diệu trong trang sách.

Câu 2: Dựa vào khổ thơ thứ hai và những trải nghiệm đọc sách, nêu cách hiểu của em về câu thơ “Trang sách trả lời câu hỏi tuổi thơ”.

Câu thơ “Trang sách trả lời câu hỏi tuổi thơ” có nghĩa là: sách giúp các em giải đáp bao điều thắc mắc, tò mò của tuổi nhỏ.

Trong khổ thơ thứ hai, sách trả lời cho các em biết:

  • Vũ trụ bao la với biết bao điều bí mật.
  • Trái đất rộng lớn đã có bước chân con người chinh phục.
  • Mặt trăng hiền hòa – nơi có chú Cuội trong câu chuyện cổ tích.

→ Nhờ đọc sách, các em hiểu thêm về thế giới xung quanh, về thiên nhiên, con người và cả những câu chuyện thú vị.

Câu 3: Khổ thơ thứ ba giúp em cảm nhận được gì về ý nghĩa của những trang sách đối với tuổi thơ?

Khổ thơ thứ ba cho em cảm nhận:

  • Trang sách thắp lên ngọn lửa khát khao – nuôi dưỡng những ước mơ đẹp trong lòng các em.
  • Những ước mơ ấy gắn liền với quê hương, xứ sở.
  • Trang sách còn mở ra một con đường dài tít tắp đang đợi các em bước tới.

→ Sách có ý nghĩa rất lớn với tuổi thơ: nuôi dưỡng tâm hồn, chắp cánh ước mơ và mở ra tương lai tươi sáng cho các em.

Câu 4: Theo em, tác giả muốn nhắn gửi các bạn nhỏ điều gì qua khổ thơ cuối? Chọn câu trả lời dưới đây hoặc nêu ý kiến của em.

A. Nhân nghĩa là lẽ sống đẹp của dân tộc mà mỗi con người cần hướng tới.

B. Qua những trang sách, ta nhận ra lẽ sống nhân nghĩa người xưa truyền lại.

C. Nhớ về cội nguồn, gìn giữ truyền thống tốt đẹp cha ông để lại là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Trả lời: Em chọn đáp án C.

Giải thích: Trong khổ thơ cuối, tác giả nhắc đến “Nhân nghĩa bao đời cha ông gìn giữ”, hình ảnh “dòng sông sẽ chảy về biển cả”“Lớn khôn rồi vẫn nhớ tiếng mẹ ru”. Những hình ảnh ấy nhắc nhở các em: dù lớn lên và đi xa, vẫn phải luôn nhớ về cội nguồn, gìn giữ truyền thống tốt đẹp mà cha ông để lại.

Câu 5: Em thích khổ thơ nào trong bài? Vì sao?

Gợi ý trả lời:

Em thích nhất khổ thơ thứ ba trong bài:

Trang sách thắp lên ngọn lửa khát khao

Những ước mơ có dáng hình xứ sở

Những ước mơ tuổi thơ luôn rộng mở

Con đường dài tít tắp đợi mong ta.

Vì: Khổ thơ giúp em hiểu rằng sách không chỉ mang đến kiến thức mà còn nuôi dưỡng những ước mơ đẹp gắn với quê hương. Đọc khổ thơ, em cảm thấy tràn đầy niềm tin và mong muốn được học tập, khám phá để bước đi trên con đường tương lai rộng mở.

(Các em có thể chọn khổ thơ khác mà mình yêu thích và nêu lí do phù hợp với cảm nhận của bản thân.)

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình