Giải SGK Tiếng Việt 5: Ôn tập HK2, Phần 2 – Đánh giá cuối năm học

A. ĐỌC

I. Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi. (Bài thơ: Qua Thậm Thình)

Câu 1: Vì sao khi đi qua Thậm Thình, tác giả lại bâng khuâng nhớ về thuở xa xưa?

Khi đi qua Thậm Thình, tác giả lại bâng khuâng nhớ về thuở xa xưa vì:

  • Thậm Thìnhđịa danh gắn với truyền thuyết Vua Hùng – nơi tương truyền là Vua Hùng đã dừng chân, dựng lầu và đặt kho chứa gạo.
  • Đứng ở đây, tác giả như được sống lại với thuở dựng nước của cha ông, nhớ về cội nguồn dân tộccông lao của các Vua Hùng.

Câu 2: Qua lời kể của tác giả, những chi tiết nào cho thấy vua rất gần gũi, gắn bó với muôn dân?

Những chi tiết cho thấy vua rất gần gũi, gắn bó với muôn dân:

  • Vua Hùng đi săn qua nơi này và nghỉ chân cùng dân – “Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này.”
  • Dân dâng lên vua những lễ vật giản dị, thân thương – “Dân dâng một quả xôi đầy / Bánh chưng mấy cặp, bánh giầy mấy đôi.”
  • Vua vui lòng trước tình cảm của dân, liền cho tìm đất, kén thợ xây nhà kho ngay tại đây.
  • Vua cho các cô gái giã gạo, tạo nên tiếng chày “thậm thình” vang vọng đêm đêm – “Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non.”

Câu 3: Theo em, bốn dòng thơ cuối ý nói gì?

Bốn dòng thơ cuối:

Không còn dấu cũ lầu son Phía sau thành phố khói vờn trong mây. Trời cao. Bóng toả đường cây Nhịp chày xưa thoảng đâu đây… thậm thình.

Ý nói:

  • Ngày nay, dấu tích lầu son của Vua Hùng không còn nữa, thay vào đó là thành phố hiện đại đang phát triển.
  • Nhưng nhịp chày giã gạo xưa vẫn như vang vọng đâu đây, nhắc nhở chúng ta về cội nguồn dân tộc.
  • Thể hiện tấm lòng biết ơn, tự hàoluôn hướng về nguồn cội của tác giả cũng như mỗi người dân Việt Nam.

II. Đọc hiểu. (Bài đọc: Phong cảnh đền Hùng)

Câu 1: Ở đoạn mở đầu, đền Thượng được miêu tả thế nào?

  • Trước đền: những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa.
  • Trong đền: dòng chữ vàng “Nam quốc sơn hà” uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.

Câu 2: Ghép ô chữ bên trái với ô chữ bên phải để nêu đúng phong cảnh thiên nhiên nhìn từ lăng của các Vua Hùng.

Vị trí Cảnh vật
Phía bên phải Đỉnh Ba Vì vòi vọi, nơi Mị Nương – con gái Hùng Vương thứ 18 – theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao.
Phía bên trái Dãy Tam Đảo như bức tường xanh sừng sững đỡ lấy mây trời cuộn cuộn; xa xa là núi Sóc Sơn, nơi in dấu chân ngựa sắt Phù Đổng, người có công giúp Hùng Vương đánh thắng giặc Ân.
Trước mặt Ngã Ba Hạc, nơi gặp gỡ của ba dòng sông lớn tháng năm mải miết đắp bồi phù sa cho đồng bằng xanh mát.

Câu 3: Những cảnh vật nào ở đền Trung gợi lên vẻ cổ kính?

Những cảnh vật ở đền Trung gợi lên vẻ cổ kính:

  • Những cành hoa đại cổ thụ toả hương thơm.
  • Những gốc thông già hàng năm, sáu thế kỉ che mát cho con cháu về thăm đất Tổ.

Câu 4: Bài văn gợi lại những câu chuyện cổ xưa về sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Em hãy kể tên một số câu chuyện đó.

Một số câu chuyện cổ xưa được gợi lại trong bài:

  • Sơn Tinh, Thuỷ Tinh (qua chi tiết Mị Nương – con gái Hùng Vương thứ 18 – theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao).
  • Thánh Gióng (qua chi tiết ngựa sắt Phù Đổng giúp Hùng Vương đánh thắng giặc Ân).
  • An Dương Vương dời đô về Phong Khê (qua chi tiết dựng mốc đá thề giữ vững giang sơn).
  • Sự tích bánh chưng, bánh giầy (qua hình ảnh các Vua Hùng).
  • Con Rồng cháu Tiên (qua nguồn gốc dân tộc).

Câu 5: Theo em, việc nhắc nhớ những câu chuyện cổ xưa có ý nghĩa gì?

Việc nhắc nhớ những câu chuyện cổ xưa có ý nghĩa:

  • Nhắc nhở chúng ta về cội nguồn dân tộccông lao dựng nước, giữ nước của cha ông.
  • Giúp thế hệ trẻ thêm biết ơn tổ tiêntự hào về truyền thống dân tộc.
  • Góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam.
  • Bồi đắp lòng yêu nước và ý thức xây dựng, bảo vệ quê hương.

Câu 6: Nêu suy nghĩ của em về câu ca dao: Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba.

Suy nghĩ của em về câu ca dao:

  • Câu ca dao nhắc nhở tất cả người Việt Nam, dù đi đâu, làm gì cũng phải nhớ về ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch).
  • Thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, luôn biết ơn tổ tiên – những người đã có công dựng nước.
  • Đó là một truyền thống văn hoá tốt đẹp, gắn kết những người con đất Việt trên khắp mọi miền Tổ quốc và cả người Việt xa xứ.
  • Em cảm thấy tự hàoluôn khắc ghi lời dạy trong câu ca dao ấy.

Câu 7: Câu nào dưới đây là câu ghép?

Đáp án: Câu a.

a. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa.

Câu ghép (có 2 vế):

  • Vế 1: những khóm hải đường (CN) / đâm bông rực đỏ (VN).
  • Vế 2: những cánh bướm nhiều màu sắc (CN) / bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa (VN).

b. Trong đền, dòng chữ vàng Nam quốc sơn hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.Câu đơn (chỉ có 1 chủ ngữ).

c. Lăng của các Vua Hùng kề bên đền Thượng, ẩn trong rừng cây xanh xanh.Câu đơn (chỉ có 1 chủ ngữ).

Câu 8: Các vế của câu ghép dưới đây được nối với nhau bằng cách nào?

Những cành hoa đại cổ thụ toả hương thơm, những gốc thông già hàng năm, sáu thế kỉ che mát cho con cháu về thăm đất Tổ.

→ Các vế của câu ghép được nối trực tiếp (bằng dấu phẩy), không dùng kết từ.

Phân tích:

  • Vế 1: Những cành hoa đại cổ thụ (CN) / toả hương thơm (VN).
  • Vế 2: những gốc thông già hàng năm, sáu thế kỉ (CN) / che mát cho con cháu về thăm đất Tổ (VN).

Câu 9: Nêu công dụng của dấu gạch ngang được sử dụng trong câu dưới đây:

Bên phải là đỉnh Ba Vì vòi vọi, nơi Mị Nương – con gái Hùng Vương thứ 18 – theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao.

Công dụng: Dấu gạch ngang dùng để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu (giải thích thêm về Mị Nương – là con gái Hùng Vương thứ 18). Ở đây, dấu gạch ngang được dùng theo cặp.

Câu 10: Trong câu “Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh thật là đẹp.”, từ đứng được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Đặt 1 – 2 câu có từ đứng được dùng với nghĩa chuyển.

  • Từ “đứng” trong câu trên được dùng với nghĩa gốc – chỉ tư thế của con người với hai chân thẳng, thân người thẳng, không ngồi, không nằm.

Đặt câu có từ “đứng” dùng với nghĩa chuyển:

  1. Bạn Nam luôn đứng đầu lớp về môn Toán. (nghĩa chuyển: chỉ vị trí xếp hạng)
  2. Chiếc đồng hồ cũ trong nhà em bỗng nhiên đứng lại. (nghĩa chuyển: chỉ trạng thái ngừng hoạt động)

B. VIẾT

Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:

  • Đề 1: Viết bài văn tả một người bạn đã gắn bó với em trong những năm học qua.
  • Đề 2: Viết bài văn kể lại một câu chuyện em yêu thích trong sách Tiếng Việt 5, trong đó có những chi tiết sáng tạo.

Bài văn mẫu Đề 1: Tả người bạn thân đã gắn bó với em trong những năm học qua.

Trong suốt những năm học tiểu học, em có một người bạn thân luôn gắn bó, chia sẻ mọi buồn vui – đó là Minh Anh, người bạn ngồi cùng bàn với em từ năm lớp một.

Minh Anh năm nay cũng tròn mười một tuổi như em. Bạn có dáng người thanh mảnh, nước da trắng hồng rất đáng yêu. Mái tóc đen dài luôn được buộc gọn gàng bằng một chiếc nơ màu hồng. Khuôn mặt Minh Anh tròn trịa với đôi mắt to, đen láy như hai hạt nhãn, lúc nào cũng ánh lên vẻ thông minh, hiền dịu. Mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền hiện lên hai bên má trông thật duyên dáng.

Không chỉ xinh xắn, Minh Anh còn là một học sinh giỏi của lớp. Bạn học đều tất cả các môn, đặc biệt rất giỏi môn Toán và Tiếng Việt. Điều em quý nhất ở Minh Anh là bạn hiền lành, tốt bụngluôn sẵn lòng giúp đỡ bạn bè. Mỗi khi em có bài toán khó, Minh Anh đều kiên nhẫn giảng giải cho em hiểu. Trong giờ ra chơi, chúng em thường cùng nhau nhảy dây, đọc sách hoặc trò chuyện về những cuốn truyện yêu thích.

Em còn nhớ hôm em bị ốm phải nghỉ học, Minh Anh đã chép bài giúp em và mang đến tận nhà để em không bị mất bài. Chính những việc làm ấy khiến em càng thêm yêu quýtrân trọng tình bạn của chúng em.

Bây giờ, sắp phải chia tay mái trường tiểu học, em và Minh Anh sẽ có thể không còn học cùng nhau nữa. Nhưng em tin rằng, dù đi đâu, làm gì, chúng em vẫn sẽ mãi mãi là những người bạn thân thiết, cùng nhau nhớ về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò.

Bài văn mẫu Đề 2: Kể lại câu chuyện Sự tích bánh chưng, bánh giầy với những chi tiết sáng tạo.

Ngày xưa, vào đời Vua Hùng thứ sáu, sau khi đánh đuổi giặc Ân, nhà vua muốn truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu xuân, vua cho gọi các hoàng tử lại và phán rằng: “Ai làm vừa ý ta trong lễ Tiên vương thì ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiên vương chứng giám.”

Nghe lời cha, các hoàng tử náo nức cho người đi khắp nơi tìm những của ngon vật lạ. Người thì lên rừng săn tê giác, hươu nai; người thì xuống biển tìm cá to, ngọc quý. Chỉ riêng Lang Liêu – người con thứ mười tám – buồn bã vì mẹ chàng mất sớm, chàng lại nghèo nhất trong các hoàng tử. Chàng chỉ có ruộng lúa và khoai. “Biết lấy gì để dâng lên Tiên vương đây?” – Lang Liêu thầm nghĩ, hai hàng nước mắt rơi xuống trang giấy.

Một đêm, khi Lang Liêu đang trằn trọc, chàng bỗng thấy một vị thần hiện ra trong ánh sáng vàng dịu. Vị thần khoác áo trắng, râu tóc bạc phơ, chỉ tay vào cánh đồng lúa và nói: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Hãy dùng gạo nếp mà làm bánh dâng lên vua cha.” Nói xong, vị thần biến mất, chỉ còn lại hương thơm ngọt ngào phảng phất trong gió.

Sáng hôm sau, Lang Liêu tỉnh dậy và bắt tay ngay vào làm. Chàng chọn thứ gạo nếp thơm ngon nhất, đãi thật sạch, rồi lấy lá dong xanh gói lại. Bên trong là đậu xanh vàng ươmthịt lợn thơm phức. Chàng gói thành hai loại bánh: bánh hình vuông tượng trưng cho đất, bánh hình tròn tượng trưng cho trời. Chàng và các em nhỏ trong làng cùng nhau ngồi bên bếp lửa hồng, đun bánh suốt đêm dài. Mùi bánh chín thơm lừng khắp cả xóm.

Đến ngày lễ Tiên vương, các hoàng tử mang lên biết bao sơn hào hải vị. Riêng Lang Liêu chỉ dâng hai thứ bánh giản dị. Vua Hùng nếm thử, tấm tắc khen ngon và hỏi cách làm. Nghe Lang Liêu kể lại giấc mơ, nhà vua vô cùng cảm động. Ngài quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu và đặt tên hai loại bánh là bánh chưngbánh giầy.

Từ đó đến nay, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, người dân Việt Nam lại quây quần bên nhau gói bánh chưng, bánh giầy để tưởng nhớ tổ tiên. Câu chuyện Lang Liêu đã dạy em một bài học quý: hãy biết trân trọng những giá trị giản dịquý báu nhất trong cuộc sống, đó chính là hạt gạocông sức lao động của con người.

Ghi chú: Các chi tiết sáng tạo trong bài kể trên là: chi tiết Lang Liêu rơi nước mắt lo lắng, hương thơm khi vị thần biến mất, chi tiết các em nhỏ cùng đun bánh với Lang Liêu bên bếp lửa hồng suốt đêm.

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình