Giải SGK Tiếng Việt 5: Bài 14: Viết đoạn văn tả phong cảnh – Tuần 7

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

Giải các câu hỏi SGK

Câu 1: Đọc các đoạn văn dưới đây và trả lời câu hỏi

a. Đoạn văn của Trần Nhuận Minh (tả con suối trong rừng trúc)

• Đoạn văn tả phong cảnh gì?

→ Đoạn văn tả con suối nhỏ chảy trong rừng trúc.

• Tác giả quan sát, cảm nhận vẻ đẹp của phong cảnh bằng những giác quan nào?

Tác giả đã sử dụng nhiều giác quan để quan sát và cảm nhận:

Giác quan Hình ảnh, chi tiết trong bài
Thị giác (nhìn) Nước rất trong, sợi rêu xanh, tảng đá xám, bầy cá nhỏ, măng trúc bị nhím ăn dở, cây trúc vàng óng, hoa trúc,…
Thính giác (nghe) Gần như không có một tiếng động nào (sự im lặng của khu rừng).
Khứu giác (ngửi) Mùi thơm nhẹ nhõm thoảng đâu đó, xa ngái,…

• Phong cảnh được miêu tả theo trình tự thời gian hay không gian?

→ Phong cảnh được miêu tả theo trình tự không gian: từ dòng suối → giữa dòng suối (bầy cá) → bên kia suối (dấu chân nhím, măng trúc) → cây trúc và hoa trúc.

b. Đoạn văn của Vũ Tú Nam (tả biển)

• Tìm câu chủ đề của đoạn văn.

→ Câu chủ đề: “Biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời.”

• Theo em, tác giả đã quan sát biển, trời vào những thời điểm nào?

Tác giả đã quan sát biển và trời vào nhiều thời điểm khác nhau, khi thời tiết thay đổi:

  • Khi trời xanh thẳm → biển thẳm xanh như dâng cao lên, chắc nịch.
  • Khi trời rải mây trắng nhạt → biển mơ màng dịu hơi sương.
  • Khi trời âm u mây mưa → biển xám xịt nặng nề.
  • Khi trời ầm ầm dông gió → biển đục ngầu, giận dữ.

• Tìm và nêu tác dụng của hình ảnh so sánh và nhân hoá trong đoạn văn.

Biện pháp Hình ảnh cụ thể
So sánh “Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh như dâng cao lên, chắc nịch.”; Như một con người biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.”
Nhân hoá Biển “mơ màng”, “tẻ nhạt”, “lạnh lùng”, “sôi nổi”, “hả hê”, “đăm chiêu”, “gắt gỏng”, “giận dữ”, “biết buồn vui” (dùng từ ngữ chỉ tâm trạng, tính cách con người để tả biển).

Tác dụng: Các hình ảnh so sánh và nhân hoá làm cho biển trở nên sinh động, gần gũi, giống như một con người có cảm xúc, tâm trạng. Nhờ đó, người đọc dễ dàng hình dung được vẻ đẹp muôn màu và sự thay đổi kì diệu của biển.

Câu 2: Dựa vào kết quả quan sát phong cảnh ở Bài 12 và dàn ý đã lập ở Bài 13, viết đoạn văn tả một đặc điểm nổi bật của cảnh ao hồ, sông suối hoặc biển đảo.

Dưới đây là 2 đoạn văn mẫu để các em tham khảo:

Đoạn văn mẫu 1: Tả vẻ đẹp trong veo của dòng suối trong rừng

Con suối nhỏ chảy giữa rừng trúc quê em mang một vẻ đẹp thật bình yên. Nước suối trong vắt đến mức em có thể nhìn thấy rõ từng viên đá cuội tròn nhẵn nằm im dưới đáy, thỉnh thoảng lại có vài chú cá nhỏ tung tăng bơi lội. Dòng nước chầm chậm len qua các mỏm đá, phát ra tiếng “róc rách, róc rách” đều đều, nghe như một khúc nhạc dịu dàng của núi rừng. Ánh nắng xuyên qua kẽ lá trúc, chiếu xuống mặt suối lấp lánh như dát bạc. Đôi khi, một chiếc lá vàng nhẹ nhàng rơi xuống, thong thả trôi theo dòng nước. Đứng bên bờ suối, em cảm thấy lòng mình thật thư thái, chỉ muốn ở đây thật lâu để hít thở không khí trong lành và lắng nghe tiếng suối rì rào.

Đoạn văn mẫu 2: Tả màu xanh biếc kì diệu của biển

Điều làm em ấn tượng nhất khi ngắm biển chính là màu xanh biếc kì diệu của mặt nước. Ngay sát bờ, nước biển trong veo như ngọc bích, có thể nhìn thấy những hạt cát vàng óng ánh dưới đáy. Càng ra xa, biển càng đổi màu đậm hơn: từ xanh lam dịu dàng đến xanh thẫm như bầu trời lúc hoàng hôn. Khi mặt trời chiếu xuống, mặt biển lấp lánh như được rắc muôn ngàn viên kim cương. Từng đợt sóng bạc đầu nối tiếp nhau vỗ vào bờ, rì rào như đang thì thầm kể những câu chuyện xa xưa. Mỗi lần chạm tay vào làn nước biển mát rượi, em lại thấy yêu biển hơn – yêu vẻ đẹp bao la, dịu dàng mà cũng đầy quyến rũ của biển quê hương.

Lưu ý khi viết đoạn văn:

  • Chỉ tả một đặc điểm nổi bật của phong cảnh, không tả lan man nhiều đặc điểm.
  • Sử dụng nhiều giác quan (nhìn, nghe, ngửi, chạm) để đoạn văn sinh động.
  • Kết hợp các hình ảnh so sánh, nhân hoá để câu văn hấp dẫn hơn.
  • Nên có câu chủ đề mở đầu để nêu bật đặc điểm em muốn tả.
Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình