Giải SGK Tiếng Việt 5: Ôn tập GHK2, Phần 1 – Ôn tập: Tiết 1 – 2

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Giải các câu hỏi SGK

Câu 1: Dựa vào lời giới thiệu của mỗi nhân vật dưới đây, cho biết nhân vật đó là ai, xuất hiện trong câu chuyện nào đã học.

Lời giới thiệu Nhân vật Câu chuyện
(1) Tôi đã thay mặt cả lớp cảm ơn cô giáo và tặng cô hộp quà chứa ba mươi lăm lá thư của cả lớp. Bạn Quang Hộp quà màu thiên thanh
(2) Tôi chọn thật nhiều hoa màu vàng, loại hoa bạn tôi yêu thích, để làm một giỏ hoa tặng bạn. Bạn Xu-di Giỏ hoa tháng Năm
(3) Khi tôi cất giọng hát, tiếng hát vang khắp núi rừng, khiến muông thú quên cả phá lúa và nhảy múa theo tiếng hát của tôi. Em bé Nai Ngọc Tiếng hát của người đá
(4) Tôi quyết tâm khôi phục lại trang trại sau khi bị cháy và tôi đã làm được. Bạn Mát Khu rừng của Mát
(5) Tôi ước mơ trở thành một kĩ sư nông nghiệp để phát triển cây chè ở quê hương Tà Xùa của tôi. Bạn Thào A Sùng Những búp chè trên cây cổ thụ

Câu 2: Nêu nội dung chính của một trong những câu chuyện được nhắc tới ở bài tập 1.

Bài tham khảo 1: Nội dung chính của truyện Hộp quà màu thiên thanh

Câu chuyện kể về lớp học của Tân cùng nhau viết thư tặng cô giáo chủ nhiệm nhân buổi tổng kết năm học. Tân đã viết về kỉ niệm đi học muộn vì mải bẻ ngô giúp mẹ và những cố gắng của mình để tiến bộ trong học tập. Ba mươi lăm lá thư của cả lớp được xếp vào chiếc hộp quà màu thiên thanh – món quà tri ân đầy ý nghĩa dành cho cô giáo. Truyện thể hiện tình cảm cô trò thắm thiết và lòng biết ơn sâu sắc của học trò dành cho thầy cô.

Bài tham khảo 2: Nội dung chính của truyện Tiếng hát của người đá

Câu chuyện kể về mỏm đá hình em bé cười trên đỉnh núi Chư Bô-đa, được nắng, mưa, gió, chim nuôi dưỡng và biến thành em bé Nai Ngọc. Tiếng hát của Nai Ngọc cảm hoá muông thú, khiến chúng thôi phá nương rẫy. Khi giặc kéo đến, Nai Ngọc cất tiếng hát khiến giặc buông vũ khí, giúp dân làng đánh tan giặc. Truyện thể hiện ước nguyện hoà bình, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta, đồng thời cho thấy mối gắn bó sâu nặng giữa con người và thiên nhiên.

Em có thể chọn nêu nội dung chính của bất kì câu chuyện nào trong 5 câu chuyện ở bài tập 1: Hộp quà màu thiên thanh, Giỏ hoa tháng Năm, Tiếng hát của người đá, Khu rừng của Mát, Những búp chè trên cây cổ thụ.

Câu 3: Trong đoạn văn dưới đây, câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép? Xác định các vế của những câu ghép vừa tìm được.

Đoạn văn:

(1) Mùa đông, rùa ngại rét. (2) Gió cứ thổi vù vù. (3) Rùa đợi đến mùa xuân. (4) Mùa xuân nhiều hoa, nhưng mùa xuân vẫn là đứa em của mùa đông. (5) Mưa phùn vẫn cứ lai rai và gió bắc vẫn thút thít ở các khe núi. (6) Rùa lại đợi đến hè. (7) Mùa hè tạnh ráo. (8) Cây cối có nhiều quả chín thơm tho. (9) Nhưng cái nóng cứ hầm hập. (10) Cả ngày, bụi cuốn mịt mùng. (11) Hễ cơn dông đến thì đất đá lại như sôi lên, nước lũ đổ ào ào.

Trả lời:

Câu đơn: (1), (2), (3), (6), (7), (8), (9), (10) – mỗi câu chỉ có một cụm chủ ngữ – vị ngữ.

Câu ghép: (4), (5), (11)

Câu Phân tích các vế
(4) Mùa xuân nhiều hoa, nhưng mùa xuân vẫn là đứa em của mùa đông. – Vế 1: Mùa xuân (CN) / nhiều hoa (VN).

– Vế 2: mùa xuân (CN) / vẫn là đứa em của mùa đông (VN).

→ Nối bằng dấu phẩy và kết từ “nhưng”.

(5) Mưa phùn vẫn cứ lai rai gió bắc vẫn thút thít ở các khe núi. – Vế 1: Mưa phùn (CN) / vẫn cứ lai rai (VN).

– Vế 2: gió bắc (CN) / vẫn thút thít ở các khe núi (VN).

→ Nối bằng kết từ “và”.

(11) Hễ cơn dông đến thì đất đá lại như sôi lên, nước lũ đổ ào ào. – Vế 1: cơn dông (CN) / đến (VN).

– Vế 2: đất đá (CN) / lại như sôi lên (VN).

– Vế 3: nước lũ (CN) / đổ ào ào (VN).

→ Nối bằng cặp từ hô ứng “Hễ… thì…” và dấu phẩy.

Câu 4: Chọn một vế câu ở A và một vế câu ở B, thêm kết từ hoặc cặp từ hô ứng để tạo câu ghép.

Gợi ý ghép cặp:

a. Mặt trời lên cao ↔ chiếc bóng ngắn lại.

→ Mặt trời càng lên cao thì chiếc bóng càng ngắn lại. (cặp từ hô ứng “càng… càng…”)

mặt trời lên cao nên chiếc bóng ngắn lại. (cặp kết từ nguyên nhân – kết quả)

b. Sương xuống dày đặc ↔ khung cảnh xung quanh mờ mịt, không còn nhìn rõ mặt người.

sương xuống dày đặc nên khung cảnh xung quanh mờ mịt, không còn nhìn rõ mặt người.

→ Sương càng xuống dày đặc, khung cảnh xung quanh càng mờ mịt, không còn nhìn rõ mặt người.

c. Trong vườn, những bông hồng đã nở rộ, toả hương ngào ngạt ↔ những bông lan vẫn e ấp giữ nụ chúm chím.

→ Trong vườn, những bông hồng đã nở rộ, toả hương ngào ngạt nhưng những bông lan vẫn e ấp giữ nụ chúm chím. (kết từ tương phản)

→ Trong vườn, những bông hồng đã nở rộ, toả hương ngào ngạt còn những bông lan vẫn e ấp giữ nụ chúm chím. (kết từ đối chiếu)

Câu 5: Thêm kết từ và vế câu thay cho bông hoa để tạo câu ghép.

a. Nếu em chọn một sản vật quê hương để giới thiệu với bạn bè ❀

→ Nếu em chọn một sản vật quê hương để giới thiệu với bạn bè thì em sẽ giới thiệu về hạt gạo Tám thơm Hải Hậu quê em.

→ Nếu em chọn một sản vật quê hương để giới thiệu với bạn bè thì em sẽ chọn quả vải thiều Lục Ngạn ngọt thanh.

b. ❀ nên tôi luôn háo hức mong đến giờ ông kể chuyện.

Ông tôi kể chuyện rất hay nên tôi luôn háo hức mong đến giờ ông kể chuyện.

Những câu chuyện cổ tích của ông thật thú vị nên tôi luôn háo hức mong đến giờ ông kể chuyện.

c. Tuy những hạt gạo bé nhỏ, giản dị ❀

→ Tuy những hạt gạo bé nhỏ, giản dị nhưng chúng chứa đựng bao mồ hôi, công sức của người nông dân.

→ Tuy những hạt gạo bé nhỏ, giản dị nhưng nó lại vô cùng quý giá đối với mỗi chúng ta.

Ghi nhớ: Các cặp từ hô ứng thường gặp trong câu ghép:

– Chỉ nguyên nhân – kết quả: Vì… nên…; Do… nên…; Bởi vì… cho nên…

– Chỉ điều kiện – kết quả: Nếu… thì…; Hễ… thì…; Giá… thì…

– Chỉ tương phản: Tuy… nhưng…; Mặc dù… nhưng…

– Chỉ tăng tiến: Càng… càng…; Bao nhiêu… bấy nhiêu…

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình