Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Giải các câu hỏi SGK
Câu 1: Chọn 1 trong 2 yêu cầu dưới đây.
a. Đọc thuộc lòng đoạn thơ khoảng 100 chữ trong một bài thơ đã học và trả lời câu hỏi.
Các em mở SGK Tiếng Việt lớp 5 để đọc thuộc lòng đoạn thơ mình yêu thích trong các bài: Bộ đội về làng, Về ngôi nhà đang xây, Việt Nam quê hương ta, Bài ca trái đất.
➤ Bài thơ “Bộ đội về làng” (Hoàng Trung Thông) – Tình quân dân được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Tình quân dân trong bài thơ được thể hiện rất thắm thiết, gắn bó như ruột thịt:
- Nhân dân xóm làng luôn nhớ mãi, chờ mong các anh bộ đội trở về.
- Khi bộ đội về, cả xóm rộn ràng tiếng hát, câu cười, các em nhỏ hớn hở theo sau.
- Mẹ già bịn rịn vui mừng đón “đàn con ở rừng sâu mới về”.
- Dù “nhà lá đơn sơ” nhưng người dân vẫn rộng mở tấm lòng, dành cho các anh “nồi cơm nấu dở”, “bát nước chè xanh” và cùng nhau kể chuyện tâm tình.
→ Bài thơ ca ngợi tình cảm quân dân gắn bó, thân thương, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
➤ Bài thơ “Về ngôi nhà đang xây” (Đồng Xuân Lan) – Theo em, nhà thơ muốn nói điều gì qua hình ảnh ngôi nhà đang xây?
Qua hình ảnh ngôi nhà đang xây, nhà thơ muốn nói:
- Đất nước ta đang trên đà phát triển, đổi mới, không ngừng được xây dựng.
- Hình ảnh “Ngôi nhà như trẻ nhỏ / Lớn lên với trời xanh” gợi lên sức sống mãnh liệt, niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
- Nhà thơ còn ca ngợi vẻ đẹp của lao động và sức sáng tạo của con người Việt Nam.
→ Ngôi nhà đang xây là hình ảnh tượng trưng cho đất nước Việt Nam đang phát triển, giàu đẹp từng ngày.
➤ Bài thơ “Việt Nam quê hương ta” (Nguyễn Đình Thi) – Em thích những hình ảnh nào trong bài thơ? Vì sao?
Em thích nhất những hình ảnh:
- “Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn” – gợi lên hình ảnh cánh đồng lúa bát ngát, trù phú của quê hương.
- “Cánh cò bay lả rập rờn” – hình ảnh cánh cò trắng thân thuộc, đặc trưng của làng quê Việt Nam.
- “Tay người như có phép tiên / Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ” – ca ngợi bàn tay khéo léo, tài hoa của người dân Việt Nam.
→ Vì những hình ảnh đó vừa đẹp, vừa thanh bình, lại vừa ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và tài năng của con người Việt Nam. Em càng thêm yêu quý quê hương mình.
➤ Bài thơ “Bài ca trái đất” (Định Hải) – Nhan đề bài thơ gợi cho em những cảm nghĩ gì?
Nhan đề “Bài ca trái đất” gợi cho em những cảm nghĩ:
- Trái đất là ngôi nhà chung của tất cả trẻ em và mọi người trên thế giới.
- Chúng ta cần phải yêu quý, bảo vệ trái đất – hành tinh xanh tươi đẹp của chúng ta.
- Cần chống lại chiến tranh, bom đạn để giữ bình yên cho trái đất.
- Cần đoàn kết, yêu thương giữa các dân tộc, không phân biệt màu da.
→ Bài thơ như một khúc ca vui tươi kêu gọi mọi người cùng nhau bảo vệ hoà bình và giữ gìn trái đất.
b. Đọc một bài dưới đây và thực hiện yêu cầu.
➤ Bài đọc: Nghìn năm văn hiến
- Chủ đề của bài đọc: Ca ngợi truyền thống hiếu học và nền văn hiến lâu đời của dân tộc Việt Nam.
- Thông tin chính của bài đọc:
- Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu Thăng Long để thờ Khổng Tử.
- Sau đó, vua cho xây Quốc Tử Giám – được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
- Từ năm 1075 đến năm 1919, các triều vua đã tổ chức được 185 khoa thi, lấy đỗ gần 3 000 tiến sĩ.
- Ngày nay, ở Văn Miếu vẫn còn 82 tấm bia đá khắc tên 1 306 vị tiến sĩ – là chứng tích cho một nền văn hiến lâu đời.
➤ Bài đọc: Giờ Trái Đất
- Chủ đề của bài đọc: Giới thiệu về sự kiện Giờ Trái Đất và trách nhiệm bảo vệ môi trường của mỗi người.
- Thông tin chính của bài đọc:
- Giờ Trái Đất là sự kiện do Quỹ Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) tổ chức hằng năm.
- Được tổ chức vào thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba, các nơi cùng tắt đèn trong một giờ (từ 20 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút giờ địa phương).
- Sự kiện bắt đầu tại Xít-ni, Ô-xtrây-li-a vào năm 2007.
- Đến năm 2022, đã có hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia. Việt Nam hưởng ứng từ năm 2009.
- Ý nghĩa: tiết kiệm điện năng, giảm khí các-bô-níc, chống biến đổi khí hậu.
Câu 2: Xác định chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu dưới đây và cho biết câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép.
a. Hoa cà phê có mùi thơm đậm và ngọt nên nó thường theo gió bay đi rất xa.
→ Câu ghép (gồm 2 vế nối bằng kết từ “nên”)
- Vế 1: Hoa cà phê (CN) / có mùi thơm đậm và ngọt (VN).
- Vế 2: nó (CN) / thường theo gió bay đi rất xa (VN).
b. Bác rùa đá đang nằm im như một tảng đá, thò đầu ra khỏi mai, lim dim mắt đón nhận từng giọt âm thanh tươi mát của tiếng chim bách thanh.
→ Câu đơn (chỉ có 1 chủ ngữ)
- CN: Bác rùa đá
- VN: đang nằm im như một tảng đá, thò đầu ra khỏi mai, lim dim mắt đón nhận từng giọt âm thanh tươi mát của tiếng chim bách thanh.
c. Tôi có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng và tôi có thể chạy đến chỗ nó rơi xuống một cách dễ dàng.
→ Câu ghép (gồm 2 vế nối bằng kết từ “và”)
- Vế 1: Tôi (CN) / có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng (VN).
- Vế 2: tôi (CN) / có thể chạy đến chỗ nó rơi xuống một cách dễ dàng (VN).
d. Những buổi trưa hè, tôi nằm trên chiếc võng mắc vào tán cây sau nhà, vừa nghe gió thổi hiu hiu vừa nhìn lên bầu trời ngắm mây bay.
→ Câu đơn (chỉ có 1 chủ ngữ)
- Trạng ngữ: Những buổi trưa hè
- CN: tôi
- VN: nằm trên chiếc võng mắc vào tán cây sau nhà, vừa nghe gió thổi hiu hiu vừa nhìn lên bầu trời ngắm mây bay.
Câu 3: Trong những câu ghép tìm được ở bài tập 2, các vế câu được nối với nhau bằng cách nào?
- Câu a: Hai vế câu được nối với nhau bằng kết từ “nên” → thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả (mùi thơm đậm và ngọt → theo gió bay đi xa).
- Câu c: Hai vế câu được nối với nhau bằng kết từ “và” → thể hiện quan hệ liệt kê, đồng thời.
Câu 4: Đọc câu chuyện dưới đây và thực hiện yêu cầu. (Bà tổ nghề dệt lụa)

a. Dựa vào đoạn mở đầu câu chuyện, em hãy giới thiệu về công chúa Thiều Hoa.
Công chúa Thiều Hoa là con gái út của Vua Hùng thứ sáu, vô cùng xinh đẹp, dịu dàng. Nàng yêu quý muôn loài, từ cành cây, ngọn cỏ đến con chim, con thú nhỏ. Mỗi khi nàng vào rừng, cây cối như đồng cảm mà nảy lộc, đơm hoa; hươu nai, chim chóc cũng kéo đến chào đón nàng.
b. Câu chuyện giải thích thế nào về việc công chúa tìm ra được nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa?
Trong một lần dự hội thi múa của họ nhà bướm, công chúa Thiều Hoa gặp bướm nâu. Qua trò chuyện, nàng biết được:
- Bướm nâu sinh ra con tằm.
- Tằm ăn lá dâu, nhả ra những sợi tơ vàng óng, cuộn thành kén.
- Kén kéo được thành những sợi tơ óng vàng và bền chắc.
Từ đó, công chúa mang bướm nâu ra bãi dâu ven sông Hồng để nuôi. Nàng còn tìm cách làm ra guồng để kéo kén, xa để xe tơ, đưa vào khung cửi dệt và làm ra được lụa – thứ vải mỏng và vàng óng.
c. Vải lụa được làm từ tơ tằm đẹp và quý thế nào?
Vải lụa làm từ tơ tằm rất đẹp và quý:
- Mỏng và vàng óng như những dải nắng trời.
- Mùa nóng mặc vào thì mát, mùa rét mặc vào thì ấm.
d. Nhờ đâu nghề dệt lụa hình thành ở Cổ Đô và mười tám trang ấp dọc theo sông Hồng?
Nghề dệt lụa hình thành ở Cổ Đô và mười tám trang ấp dọc sông Hồng là nhờ công chúa Thiều Hoa đã dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Nghề này được truyền từ đời này sang đời khác, mãi cho đến ngày nay.
e. Nêu chủ đề của bài đọc.
Bài đọc giải thích nguồn gốc của nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa ở Việt Nam và ca ngợi công lao của công chúa Thiều Hoa – người có công tìm ra và truyền dạy nghề dệt lụa cho nhân dân, được nhân dân tôn vinh là “Bà tổ nghề dệt lụa”.

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình
